Triết lý đầu tư của người điều khiển thị trường - Soros: Lý thuyết phản thân|InsHat

Triết lý đầu tư của người điều khiển thị trường - Soros: Lý thuyết phản thân

2715 InsHat

George Soros

Ông là người Mỹ gốc Do Thái, sinh ra ở Budapest, Hungary năm 1930, hiện sống ở Thành phố New York. Ông là nhà đầu tư tiền tệ và chứng khoán, nhà quản lý quỹ, nhà hoạt động chính trị và xã hội chủ nghĩa tiến bộ, nhà triết học, nhà từ thiện, v.v. “Bloomberg Businessweek” vinh danh ông là “Người điều khiển thị trường”, “Thời báo New York” ca ngợi ông là “ Siêu sao trong giới tài chính”, Quỹ Quantum Fund mà ông thành lập hợp tác với “ Ông vua hàng hoá” Jim Rogers được công nhận là quỹ đầu tư thành công nhất từ trước đến nay, ông cũng được gọi với danh hiệu “ Người đánh sập ngân hàng Anh”, sau khi bán khống bảng Anh và kiếm được 1 tỷ đô la Mỹ. Mặc dù những thành tựu của ông trong giới tài chính đã mang lại nhiều danh hiệu bị bêu xấu, ông tự nhận mình là một “nhà tài chính triết học” và là một “chính trị gia không biên giới.”

Trong thời thơ ấu ông đã đối mặt với nguy hiểm sinh tử, sau này ông lại tiếp nhận nghi thức rửa tội của tư tưởng triết lý Popper, và ước mong không bao giờ thay đổi là trở thành một triết học gia, đã làm cho Soros đi một con đường đầu tư hoàn toàn khác.

Ông không giống như những nhà đầu tư khác là luôn tránh và nằm ngoài vòng rủi ro, ông luôn chọn cách đối mặt với nó, và dũng khí này đến từ sự chống đỡ của lý thuyết phản thân của ông. 

Hoài bão của Soros đã xuất hiện trong một bài luận văn mang tên “ Gánh nặng của ý thức” của ông, trong đó có đoạn như sau:

“Tôi biết có một thế giới mà tôi là một phần trong đó, thế giới đó đã tồn tại trước khi tôi trở thành một phần của nó, và sau khi tôi chết đi thì thế giới đó vẫn tồn tại. Tôi có thể dùng hành động của mình để ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài, xu hướng của thế giới bên ngoài ấy sẽ phụ thuộc vào sự tồn tại của tôi.” 

Vì vậy có thế nói, tư tưởng trong bài luận văn này đã đặt nền móng cho lý thuyết phản thân của Soros.

1. Chính thức đưa ra lý thuyết phản thân

Soros học hỏi từ Popper, ông chỉ ra rằng trong 300 năm qua, đại đa số thành tựu khoa học đều dựa trên phương pháp luận, là thành quả của các nhà khoa học “giả sử mình đang sống ngoài thế giới để nhìn thế giới này”. Ông gọi phương pháp này là “ giả sử hữu dụng”

Nhưng có rất nhiều vấn đề ngay cả nghiên cứu khoa học cũng không thể giải quyết được, Soros cho rằng, khoa học có thể ứng dụng trong cuộc sống của con người là có hạn, sự hiểu biết của con người về hiện thực không phải là con người trực tiếp nhìn thấy hiện thực, mà thông qua trừu tượng, tín hiệu hoặc ký hiệu để hiểu nó. Cho nên nhận thức và hiểu biết của con người khi sinh ra về hiện thực là không trọn vẹn, và có phần bị sai lệch.

Soros nhấn mạnh rằng, bất kỳ ai hoặc bất kỳ tổ chức nào cũng không có quyền kiểm soát được tiến trình lịch sử, thậm chí cũng không thể hoàn toàn hiểu hết được toàn cảnh lịch sử mà mình tham gia, càng không thể dự đoán trước được hậu quả của các sự kiện lịch sử. 

Hơn nữa, nếu lịch sử không được quyết định bởi quan niệm của con người, thì chắc chắn rằng lịch sử không được quyết định bởi sức mạnh “khách quan” mà con người có thể điều khiển, mối quan hệ giữa tư duy của con người và các sự kiện lịch sử cũng vậy. Soros nói rằng, cả hai ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng không kiểm soát nhau. Trên đây là nền tảng của lý thuyết phản thân của Soros.

2. Giải thích lý thuyết phản thân

Đầu tiên, điểm xuất phát của Soros là sự hiểu biết của con người về hiện thực là không trọn vẹn, là có sai lệch. Nhưng, sự sai lệch ấy lại là một nhân tố ảnh hưởng đến các sự kiện, theo lời của ông “ vai trò của niềm tin là thay đổi hiện thực”, có nghĩa là con người chỉ cần dựa vào niềm tin là có thể thúc đẩy thay đổi hiện thực.

Cho nên, thịnh suy của nền kinh tế ở mức độ nhất định nào đó là biểu hiện của sự tin tưởng với quốc gia. Niềm tin thật sự rất quan trọng, thuật ngữ trong kinh tế học gọi là “kỳ vọng”, nếu mọi người đều kỳ vọng nền kinh tế suy thoái, thì thực sự nó sẽ bị suy thoái. Bởi vì mọi người đều sẽ không dám chi tiêu, thì sẽ không thúc đẩy được thị trường.

Ngược lại, khi con người kỳ vọng kinh tế phồn thịnh thì nó cũng sẽ được xảy ra.  Do nhận thức của con người có phần sai lệch, nên Soros cho rằng, “thị trường luôn sai”, “tôi không chấp nhận cách nói giá cổ phiếu là phản ứng thụ động với giá trị cơ bản của nó, cũng như phản ứng của nó tương ứng với giá trị cơ bản. Tôi chủ trương đánh giá thị trường luôn bị sai lệch:…hiện tượng sai lệch đó ảnh hưởng đến giá trị cơ bản.”

Tiếp theo, hiện thực bị thay đổi bởi niềm tin của con người cũng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của con người, làm cho niềm tin của con người càng mãnh liệt hơn, từ đó tác động lại ảnh hưởng và thay đổi hiện thực.

Cuối cùng do hai bên đều ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng không kiểm soát nhau, hiện thực vẫn là hiện thực. 

Trong cuốn “The alchemy of finance”, Soros coi quá trình này là một loại quá trình phản thân. Nhưng nội dung cuốn sách này lại rất khó hiểu, khi mới là bản thảo thì bạn của ông đều nói rằng thật sự không hiểu, thậm chí còn khuyên ông nên tìm một biên tập viên để đơn giản hoá nó lại. Nhưng Soros không đồng ý, bởi vì trong mắt một số người thì đây là tác phẩm thật sự không gì có thể sánh bằng. Bậc thầy Phố Wall - Paul Tudor Jones đã viết trong lời tựa của cuốn sách: “Nó mang tính cách mạng, nó kể ra một số sự kiện dường như phức tạp và không thể kháng cự được.”

Tuy nhiên, đại đa số mọi người đều cảm thấy cuốn sách này khó đọc, thậm chí là không đáng đọc, và cũng không có mấy người có thể lĩnh hội được lý thuyết phản thân mà Soros muốn truyền tải.

Và Soros cũng cảm nhận được điều đó, ông viết trong lời tựa của ấn bản bìa mềm cuốn sách rằng: “Tôi phán đoán dựa trên phản ứng của đại đa số công chúng, rằng tôi đã không thành công trong việc chứng minh tầm quan trọng của quá trình phản thân. Được tiếp nhận có vẻ như chỉ có quan điểm đầu tiên của tôi – thiên lệch phổ biến ảnh hưởng đến giá thị trường. Và quan điểm thứ 2 – thiên lệch phổ biến trong trường hợp nhất định nào đó cũng sẽ ảnh hưởng đến cái gọi là cục diện cơ bản, hơn nữa thay đổi thị trường sẽ dẫn đến thay đổi giá thị trường lại bị bỏ qua. 

3. Thiên lệch phổ biến

Trên thị trường chứng khoán có rất nhiều nhà đầu tư, nhưng quan điểm của họ luôn tồn tại sự khác biệt, giả sử một phần sự khác biệt có thể bù trừ cho nhau, và những quan điểm chủ yếu còn tồn tại được gọi là thiên lệch phổ biến. Do đó, Soros đề ra lý thuyết quan hệ “ ba biến”, giá cả cổ phiếu được quyết định bởi thiên lệch phổ biến và xu hướng cơ bản, ngược lại thiên lệch phổ biến và xu hướng cơ bản sẽ bị ảnh hưởng bởi giá cổ phiếu. 

“ Thị trường luôn thiên về một bên này hoặc bên khác”, “Thị trường có thể ảnh hưởng thế giới mà thị trường kỳ vọng”. Ông còn chỉ ra rằng: ba biến số này có ma sát động với nhau và chúng sẽ liên tục thay đổi giá trị của chúng khi tương tác. “Ít nhất trong một thời gian, giá cổ phiếu tăng có thể được coi là một xu hướng tự nâng cao của thiên lệch phổ biến.” Đây chính là hình thái thịnh suy mà ông đề cập đến, những người có thể nhanh chóng xác định được hình thái này sẽ có cơ hội rất tuyệt vời.

4. Sự thay đổi của giá cả thị trường dẫn đến sự thay đổi của giá cả thị trường.

Chắc bạn đang cảm thấy đây có phải là một câu kiểm tra trình độ phát âm? Không hề như vậy, chúng ta lấy một ví dụ: khi giá cổ phiếu tăng, các nhà đầu tư cảm thấy mình giàu lên, vì vậy họ tiêu nhiều tiền hơn, và kết quả là doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng lên. Các nhà phân tích Phố Wall sẽ chỉ ra những “cục diện cơ bản đang cải thiện” này và khuyến khích các nhà đầu tư mua vào. Điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu tăng hơn nữa và các nhà đầu tư càng cảm thấy giàu có hơn, do đó chi tiêu của họ sẽ tăng trở lại, quá trình này được tiếp diễn liên tục. Và Soros gọi quá trình này là “quá trình phản thân”.

Đúng lúc lại tạo nên một vòng phản hồi: thay đổi giá cổ phiếu làm thay đổi cục diện cơ bản của doanh nghiệp, tiếp tục thúc đẩy thay đổi hơn nữa giá cổ phiếu, và cứ như thế theo một vòng tuần hoàn. Cho nên quá trình phản thân được coi như là một vòng phản hồi: nhận thức thay đổi hiện thực, và hiện thực lại thay đổi nhận thức. Đồng baht Thái Lan bị sụp đổ vào năm 1997 là một ví dụ cho trường hợp này.

Tháng 7/1997, Ngân hàng Trung ương Thái Lan bắt đầu thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi, nó ước tính đồng baht của Thái Lan sẽ mất giá khoảng 20%. Nhưng đến tháng 12, tỷ giá hối đoái của đồng baht Thái với đô la Mỹ đã tăng từ 26: 1 lên 50: 1, mất giá hơn 50%. Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã tính toán rằng “giá trị thực” của đồng baht Thái là 32 baht : 1 đô la Mỹ. Đây có thể là một mô hình lý thuyết rất phù hợp với định giá tiền tệ. Tuy nhiên, thực tế luôn giày vò các nhà kinh tế, làm cho Ngân hàng Trung ương Thái Lan không ngờ tới là, đồng Baht tự do thả nổi dẫn đến một loại quá trình phản thân tự hỗ trợ làm cho nó mất giá không ngừng.

Thái Lan khi đó được ví như một con hổ của Châu Á, là một nước đang trên đà phát triển, nhiều người còn cho rằng Thái Lan đang đi trên con đường vươn lên của Nhật Bản. Đồng baht Thái Lan tập trung vào đô la Mỹ từng được coi là một loại tiền tệ ổn định, vì vậy các chủ ngân hàng quốc tế sẵn sàng cho các công ty Thái Lan vay hàng tỷ đô la. Và Thái Lan cũng sẵn sàng chấp nhận các khoản vay này, vì lãi suất đô la Mỹ vào thời điểm đó tương đối thấp.

Khi đồng baht bị sụp đổ, khoản nợ của các doanh nghiệp Thái Lan đột ngột tăng cao, bởi vì cái mà họ kiếm được hầu như là đồng baht, nhưng hoàn trả lại bằng đồng đô la Mỹ, nếu tính bằng đồng baht Thái thì cục diện cơ bản đã thay đổi. Chứng kiến ​​tất cả những điều này, các nhà đầu tư đã bán tháo cổ phiếu của Thái Lan một cách dữ dội, trong khi họ đang rút lui thì người nước ngoài cũng đổi baht Thái lấy đô la Mỹ và mang về nước, đồng baht Thái tiếp tục mất giá.

Ngày càng có nhiều công ty Thái Lan dường như không trả được nợ, bởi họ không chỉ đối mặt với nợ ngày càng nhiều, mà còn không thể huy động được tiền từ thị trường chứng khoán, nên theo cái vòng luẩn quẩn, người Thái và người nước ngoài liên tục bán ra. Các công ty Thái Lan bắt đầu cắt giảm chi phí, sa thải hàng loạt công nhân, tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh, thu nhập khả dụng của người lao động giảm xuống, và những người có nhiều tiền cũng đang bắt đầu lo lắng cho tương lai, trở nên bảo thủ và giữ tiền không dám chi tiêu.

Nền kinh tế Thái Lan suy thoái nhanh chóng và nhiều công ty lớn của Thái Lan, ngay cả những công ty không có nhiều nợ đô la, cũng bắt đầu trở nên bấp bênh. Cùng với việc đồng baht Thái Lan mất giá, nền kinh tế Thái Lan rơi vào tình trạng suy thoái nên đồng baht Thái Lan tiếp tục mất giá. Đây là sự thay đổi của giá cả thị trường dẫn đến sự thay đổi của giá cả thị trường.

5. Ứng dụng của lý thuyết phản thân

Trên thế giới tồn tại vô vàn lý thuyết, có rất nhiều người nói rất có thuyết phục nhưng khó nhất là đem những lý thuyết đó vận dụng vào thực tế, điểm vĩ đại của Soros không nằm ở chỗ ông ấy đưa ra lý thuyết phản thân, mà là ông ấy đã ứng dụng thành thục trong thực tiễn đầu tư, và cũng thật sự là kiếm được tiền. Đối với Soros mà nói, lý thuyết phản thân là chìa khoá giải thích cho quá trình thịnh suy. Ông từng viết rằng: “Quá trình thịnh suy sẽ chỉ xảy ra khi giá cả thị trường ảnh hưởng đến cái gọi là cục diện cơ bản được cho là phản ánh trong giá thị trường.”

Phương pháp của ông ấy là tìm kiếm những tình huống mà sự hiểu biết về “Mr.Thị trường” khác hẳn so với hiện thực. Cũng giống như những gì ông viết: “ Chúng ta không nên không quan tâm đến thay đổi, ngược lại nên nhìn đúng về thay đổi, biến thay đổi thành trọng tâm của phân tích.”

Nếu như Soros phát hiện được ra rằng tiến trình phản thân đang kiểm soát thị trường, thì ông cũng tin chắc rằng khuynh hướng này sẽ còn kéo dài một thời gian, và giá sẽ trở nên cao hơn hoặc thấp hơn nhiều so với hầu hết mọi người dự đoán bằng cách sử dụng các khung phân tích tiêu chuẩn.

Soros từ lâu đã sử dụng triết lý thị trường của mình để phân biệt xu hướng thị trường và thiết lập vị trí của mình trước khi những người khác làm theo. Lần đầu tiên ông sử dụng lý thuyết phản thân của mình trong hoạt động của Double Eagle Fund, “Vào lúc này đây, tôi bắt đầu sử dụng lý thuyết phản thân thịnh suy của mình, triết lý của tôi có những ứng dụng thực tế.” Soros lần đầu tiên áp dụng lý thuyết quy mô lớn này vào thực tế là vào những năm 1960 khi mà trong thời kỳ bùng nổ mua bán và sáp nhập công ty, và dù lúc tăng lên hay lắng xuống ông đều kiếm được tiền. Về sau ông đã giải thích cụ thể về hoạt động trong khoảng thời gian đó.

Sau khi thời kỳ thịnh vượng bắt đầu, nhiều công ty đã biết cách tạo ra sự tăng trưởng thu nhập trên mỗi cổ phiếu thông qua việc mua bán và sáp nhập. Ông chắc chắn rằng xu hướng cơ bản này đã bắt đầu, bởi vì nhiều nhà thầu quốc phòng công nghệ cao biết rằng tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc của họ được kích thích bởi sự gia tăng lớn ngân sách quốc phòng trong Chiến tranh Lạnh không thể duy trì mãi mãi, vì vậy họ dựa vào việc mua bán và sáp nhập các công ty khác như một hàng rào tránh rủi ro.

Mở rộng theo cách này dẫn đến tăng trưởng cao và tăng trưởng thặng dư, nó vượt ra ngoài mong đợi của mọi người. Cho nên, nhiều công ty đã theo dõi và áp dụng phương pháp này. Thị trường cũng phản ứng nhiệt liệt, làm cho giá cổ phiếu của các công ty xúc tiến việc sáp nhập đã tăng lên, và mỗi khoản thặng dư cũng đã bị mất cân bằng, điều này đã hình thành nên xu hướng thiên lệch phổ biến. Sự thiên lệch phổ biến được củng cố bởi khuynh hướng cơ bản, và hai yếu tố này đã kích thích giá cổ phiếu của các doanh nghiệp tập đoàn tăng lên, càng thúc đẩy hơn nữa thiên lệch và khuynh hướng.

Sau đó bắt đầu xuất hiện những doanh nghiệp to sáp nhập những công ty tương đối kém, hơn nữa còn tạo ra tăng trưởng thặng dư, mọi người ai ai cũng làm theo, dẫn đến không ít những công ty kém cũng chạy theo đi sáp nhập công ty khác. Sự phát triển của các kỹ thuật kế toán mới và sự thúc đẩy của các nhà quản lý quỹ đã củng cố thêm thiên lệch phổ biến này.

Đối với Soros mà nói, điều này không có gì là quá kinh ngạc, ông nói rằng: “Thế giới đang phát triển theo đúng như những gì mà tôi miêu tả, càng ngày càng có nhiều người biết rằng cơ sở trào lưu này là quan niệm sai lầm. Để duy trì được đà phát triển, quy mô sáp nhập ngày càng lớn, khi đạt đến độ giới hạn sẽ phải dừng lại. Cuối cùng, trình tự này sẽ bị đảo ngược, sức mạnh chi phối giá cổ phiếu của mỗi thặng dư sẽ dẫn mất đi, sự thịnh vượng của doanh nghiệp cũng theo đó mà biến mất.” Cho nên Soros tận dụng thời cơ khi đang trong cao trào sáp nhập phát triển đạt đến đỉnh điểm, bán khống những cổ phiếu đã đạt đỉnh và thu về lợi nhuận đáng kể.

Năm 1969, một loại tài chính phái sinh mới - Quỹ dựa vào đầu tư bất động sản (REITs) đã thu hút sự chú ý của Soros. Ông đã viết một báo cáo phân tích được lưu truyền rộng rãi vào thời điểm đó, dự đoán rằng một quá trình thịnh suy “bốn giai đoạn” sẽ nâng những chứng khoán mới này lên trời, sau đó rơi xuống đất và cuối cùng sụp đổ.

Bốn giai đoạn đó giống như bốn màn trong kịch:

Màn 1: Do lãi suất ngân hàng rất cao, nên ngoài phương thức thế chấp truyền thống REITs còn tung ra một lựa chọn vô cùng hấp dẫn. Tài chính có tính tìm kiếm lợi nhuận cực mạnh và đi theo xu hướng, cho nên Soros dự đoán rằng, khi họ bắt đầu thịnh hành, REITs thâm nhập vào thị trường sẽ tăng mạnh.

Màn 2: Soros dự đoán rằng sự ra đời của REITs mới và sự mở rộng của REIT cũ sẽ bơm một lượng lớn vốn mới vào thị trường thế chấp. Có thể thấy trước rằng việc xây dựng khu dân cư sẽ phổ biến, và ngành bất động sản sẽ khởi sắc, từ đó sẽ làm tăng tỷ suất lợi nhuận của REITs và khiến giá của các đơn vị hỗ trợ của họ tăng mạnh.

Màn 3: Hoạt động xây dựng sẽ ngày càng trở nên đầu cơ, nợ xấu tăng lên, triển vọng tốt của bất động sản mất dần và sẽ xuất hiện tình trạng dư thừa nhà ở. Trong báo cáo của ông có nói rằng “Quá trình tự hỗ trợ này sẽ tiếp tục cho đến khi hỗ trợ thế chấp chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thị trường tín dụng xây dựng.” Khi sự bùng nổ bất động sản nguội đi, giá bất động sản sẽ giảm và REITs ngày càng có nhiều hơn tài sản thế chấp không thể đổi bằng tiền mặt - “Các ngân hàng sẽ bắt đầu hoảng sợ và yêu cầu hoàn trả các khoản vay tín dụng của họ.”

Màn 4: Khi lợi nhuận của REIT giảm xuống, ngành nghề đó sẽ trải qua một đợt sóng gió mạnh và quá trình tự củng cố sẽ bị đảo ngược ... sự sụp đổ bùng nổ xảy ra.

Do đợt sóng gió này là chuyện của rất lâu về sau đó, Soros cho rằng mọi người vẫn còn thời gian để kiếm được lợi nhuận trong giai đoạn thịnh vượng này, ông dự đoán rằng rủi ro duy nhất là quá trình tự hỗ trợ ( Màn 2) căn bản là sẽ không bắt đầu.

Chu kỳ này bắt đầu đúng như Soros dự đoán, ông đầu tư mạnh khi thị trường bắt đầu nóng lên, và ông cũng kiếm được lợi nhuận đáng kể trong giai đoạn thịnh vượng này. Hơn một năm sau, khi REITs bắt đầu suy giảm, và khi này Soros đã chuyển sự chú ý của mình sang các mục tiêu khác nhớ lại báo cáo ban đầu của mình, cho nên ông quyết định bán đi tất cả tài sản REITs của mình ở các phân khu khác nhau. Quỹ của ông ấy lại thu về hàng triệu đô la từ thị trường.

Soros đã sử dụng lý thuyết phản thân để kiếm tiền trong suốt quá trình thăng trầm của thị trường. Trong mắt một số người, phương pháp của ông có vẻ hơi chạy theo xu hướng, nhưng những người chạy theo xu hướng còn được gọi là người tạo ra xu hướng, đặc biệt là những người tin chắc vào biểu đồ và thường đợi xu hướng sau khi được chứng minh mới đầu tư. Khi một người chạy theo xu hướng tham gia thị trường, ví dụ như trong giai đoạn thứ hai của chu kỳ REITs, Soros đã ở đó rồi. Đôi khi, ông ấy sẽ gia tăng vị thế của mình, bởi vì hành động chạy theo xu hướng thị trường sẽ nâng cao hơn nữa tính khẳng định của xu hướng thị trường mà ông đã dự đoán.

6. Khi nào thì xu hướng kết thúc?

Những người chạy theo xu hướng thông thường cũng không biết điều này. Có những người lo lắng khi lợi nhuận tăng lên, khi thị trường đầu cơ tăng giá điều chỉnh bình thường lại vội vã rút lui. Một số người lại đợi cho khi nào xu hướng được chứng minh mới gia nhập thị trường, mà trong lúc này, giá cả chắc chắn là qua giai đoạn đỉnh điểm, thị trường đã chuyển từ thị trường tăng giá thành thị trường xuống giá.

Triết lý đầu tư của Soros cung cấp một khuôn khổ để phân tích tiến trình của các sự kiện, vì vậy ông có thể tận dụng tốt hơn các xu hướng và kiếm được nhiều tiền hơn hầu hết các nhà đầu tư khác. Hơn nữa, trong giai đoạn thịnh vượng hay suy tàn của REITs, ông ấy vẫn có thể kiếm được lợi nhuận. Benjamin có một câu danh ngôn: “ Trong thời gian ngắn, thị trường là máy ghi chép bỏ phiếu– phản ánh một bài kiểm tra đăng kí cử tri chỉ cần tiền vốn không cần trí tuệ hay tính ổn định của cảm xúc, nhưng trong thời gian dài, thị trường lại là một bàn cân.”

Cho nên một số người kết luận rằng Buffett đã sử dụng bàn cân để kiếm tiền, trong khi Soros sử dụng máy bỏ phiếu để kiếm tiền. Buffett chỉ tin rằng Mr. Thị trường là một bệnh nhân tâm thần, còn lý thuyết phản thân của Soros là lời giải thích của ông về sự thay đổi tâm trạng vô thường của Mr. Thị trường.

Trong tay Soros, lý thuyết phản thân đã trở thành một phương pháp phân tích khi nào tâm lý thị trường biến động, giúp ông có khả năng “diễn giải bộ não của Mr. Thị trường”. Do đó, Soros đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư bằng cách tập trung vào các xu hướng chính trị, kinh tế, công nghiệp, tiền tệ, lãi suất và các xu hướng khác, đồng thời tìm kiếm mối liên hệ giữa tất cả các sự kiện đang xảy ra.

Các hoạt động đầu tư của Soros bắt đầu bằng một giả thuyết. Một trong những sinh viên của ông tại Quỹ Quantum Fund nhớ lại: “George thường nói, hãy đầu tư trước, sau đó điều tra.” Phương pháp của ông là trước tiên đưa ra một giả thuyết và sau đó đầu tư một số tiền nhỏ để kiểm tra giả thuyết, xem liệu ước tính của mình là đúng hay sai.

Soros kiểm nghiệm giả thuyết bởi vì ông không chắc chắn về giả thuyết của mình có hiệu quả hay không, hoặc là bởi vì ông không biết thời cơ mà ông lựa chọn có đúng hay không. Một khi mà ông đã thả mồi câu thì ông sẽ nghiêm túc “ lắng nghe thị trường” để quyết định bước tiếp theo sẽ như thế nào. Nếu như chứng khoán rất dễ bán ra, vậy thì có thể khẳng định có rất nhiều người mua trong thị trường, nếu rất khó bán ra, hoặc chỉ có thể bán với giá thấp, thì thị trường đang nói rằng sức mua để đẩy giá cao lên là không tồn tại. Nếu như ông kiểm tra thấy rằng mình có thể kiếm được tiền, vậy thì thị trường đã kiểm nghiệm lựa chọn của ông là đúng, ông ấy sẽ tiến một bước mua vào hoặc bán khống. Nếu như ông ấy bị lỗ, vậy thì thị trường đang nói rằng, ông đã sai rồi! Và Soros sẽ lập tức rút lui.

Thực ra, để nghĩ kĩ mà nói, mỗi lần đầu tư của chúng ta không phải là dựa trên cơ sở giả thuyết? Chúng ta đều đang đưa ra giả thuyết cho tương lai, nếu giả thuyết của Soros không cao minh hơn là bao so với những phỏng đoán ngẫu nhiên, thì ông ấy sẽ luôn thua lỗ thay vì kiếm được tiền. Nhưng Soros chỉ kiểm nghiệm những giả thuyết đáng để ông kiểm nghiệm mà thôi.

Điểm khác biệt của ông với mọi người nằm ở chỗ, ông có thể hiểu sâu sắc về thị trường, người tham gia thị trường và mối liên hệ rất ít ai quan tâm giữa các sự kiện khác nhau. Thực ra, phương pháp này của Soros không phải là hiếm trong thương mại, chẳng hạn như sau khi một sản phẩm mới được tung ra thị trường, nhiều thương gia có thể mua theo lô nhỏ rồi bán thử. Chỉ khi nào thực sự nổi tiếng thì họ mới đặt đơn hàng lớn. 

Tổng kết

Mặc dù Soros có danh tiếng lớn nhưng ông không có vô số sách và bài báo liên quan như Buffett để bạn có thể tìm hiểu và học hỏi. Người ta nói rằng tính cách của Soros thích ẩn sau hậu trường và mạnh mẽ duy trì sự riêng tư của mình, bởi vì cha anh đã dạy anh rằng nổi tiếng luôn mang lại bất hạnh.

Ngoài ra, tôi nhắc nhở mọi người không nên dễ dàng học theo phương pháp rủi ro cao của Soros, bởi vì những người gần gũi nhất với ông ấy tin rằng sự khác biệt giữa ông và những người khác không thể giải thích bằng khoa học, mà cần được giải thích bằng nghệ thuật, không phải lý trí thuần túy, mà là trực giác khó nắm bắt. Con trai ông Robert từng chỉ ra rằng: “Ông ấy thay đổi Position thị trường vì ông ấy bị đau lưng. Điều này không liên quan gì đến lý trí, mà ông ấy thực sự bị đau đột ngột. Đây là lời cảnh báo sớm.” Grestein, người đã đồng hành với Soros hơn mười năm, nói rằng ông chủ của anh ta có khả năng đặc biệt để kiểm soát dòng tiền và tín dụng trên toàn thế giới, và ông ấy hoạt động gần như theo một cách bí ẩn.

Mặc dù không có khoản đầu tư nào trên thế giới mang lại lợi nhuận tuyệt đối, nhưng chúng ta có thể nâng cao kiến ​​thức, hiểu biết sâu sắc và hiểu rõ ưu nhược điểm của từng chiến lược đầu tư. Tục ngữ có câu biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng, tìm hiểu càng nhiều về cuộc chiến tài chính này thì xác suất thắng càng lớn. Nếu bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn về các chiến lược đầu tư bạn có thể tham khảo bài viết sau: Làm sao để tận dụng chiến lược cổ phiếu quyền chọn để bảo vệ Position?

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend