Tính hợp lý có giới hạn là gì? Học kinh tế học hành vi và hiểu hành vi thực tế của con người|InsHat

Tính hợp lý có giới hạn là gì? Học kinh tế học hành vi và hiểu hành vi thực tế của con người

2990 InsHat

Nếu bạn đã từng học một khóa học kinh tế học cơ bản, ngay từ đầu sách giáo khoa sẽ cho bạn biết rằng hầu hết các lý thuyết được phát triển dựa trên “con người là duy lý”. Nó giả định rằng mọi người có sở thích nhất quán, cân nhắc lãi lỗ và tìm kiếm lợi ích lớn nhất. 

Richard Thaler, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2017, đã thách thức sách giáo khoa và chỉ ra rằng giả thiết này của kinh tế học chính thống không phù hợp với thực tế và thậm chí còn vi phạm lẽ thường. Để tìm ra một phân tích gần với bản chất thực của con người, ông đã khám phá hành vi kinh tế của con người từ góc độ tâm lý học, và phát triển nên lĩnh vực mới là “Kinh tế học hành vi”. 

Mệnh đề của Thaler đưa ra tương đương với việc tuyên chiến với toàn bộ giới kinh tế học, đánh đổ niềm tin của hầu hết các học giả vào “tính hợp lý”, và gây ra các cuộc tranh luận lặp đi lặp lại trong giới học thuật. Khi cố vấn luận văn Sherwin Rosen của anh biết được sở thích nghiên cứu của anh, ông ấy đã nói với anh rằng đừng lãng phí thời gian. 

Nghiên cứu hành vi kinh tế của con người

Thế giới cho rằng Thaler đang đi ngược lại với những lý luận, nhưng điều đó có thực sự đúng không? Trong những ngày đầu của kinh tế học ở thế kỷ 18, Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học, được biết đến nhiều nhất với những luận điểm “bàn tay vô hình của thị trường” và “con người coi trọng tư lợi”, nhưng thực ra trong một cuốn sách khác “Lý thuyết về tình cảm đạo đức”, ông đã viết tôi đã quan sát những nơi làm việc khác nhau và đưa ra quan điểm cá nhân rằng mọi người thích sự công bằng và ghét sự mất mát. 

Trong thế kỷ tiếp theo, “Nguyên lý kinh tế học” của một nhà kinh tế học khác là Alfred Marshall định nghĩa môn khoa học này là: nghiên cứu về cuộc sống của con người, bao gồm cách người bình thường kiếm và sử dụng của cải. Từ lập luận của Smith và Marshall, chúng ta có thể thấy rằng cốt lõi phát triển sớm nhất của kinh tế học nằm trong nghiên cứu về “hành vi kinh tế của con người”, và điều này không khác gì lập luận của Thaler.

Người đương thời tin rằng lý do Thaler đi ngược lại những lý luận đó là vì từ những năm 1930, môn khoa học này đã được đưa vào toán học để khắc họa chính xác các hiện tượng kinh tế thông qua các mô hình thực nghiệm định lượng. Việc sử dụng ngôn ngữ toán học chặt chẽ đã giúp kinh tế học phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ tiếp theo. Tuy nhiên, để làm cho dữ liệu trong nghiên cứu nhất quán và có sẵn để phân tích, người ta cho rằng sở thích của mọi người không thay đổi và hiệu quả của “giả thuyết hợp lý” được theo đuổi.

Vào những năm 1970, Thaler đã đặt câu hỏi về “giả định hợp lý” khi ông đang theo học tiến sĩ tại Đại học Rochester. Luận văn tốt nghiệp của ông đưa ra kết luận về “Giá trị sống của con người là gì?” và điều đó đã thúc đẩy ông chìm đắm vào các cuộc nghiên cứu sâu hơn. Thaler muốn sử dụng nhiều cách đa dạng hơn để làm rõ “cách mọi người ước tính giá trị cuộc sống”, vì vậy ông đã thiết kế một bảng câu hỏi để hỏi đối tượng hai câu hỏi có cùng ý nghĩa nhưng chúng được hỏi bằng phương pháp khác nhau. 

Thứ nhất, nếu ở một nơi nào đó xảy ra một căn bệnh hiếm chết người, xác suất bị lây nhiễm là 1/1000, khi ở khu vực này, bạn sẵn sàng trả bao nhiêu tiền để mua loại thuốc chữa trị căn bệnh này? Một vấn đề nữa là các nhà nghiên cứu của bệnh viện thuộc một trường đại học muốn chế tạo ra loại thuốc chữa trị cho căn bệnh hiếm gặp này, các tình nguyện viên buộc phải mạo hiểm vượt qua tỷ lệ lây nhiễm 1/1000 này để đến nơi đó chi viện. Bạn nghĩ sẽ cần tối thiểu là bao nhiêu tiền để có thể sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu này? 

Cả hai vấn đề này đều đặt ra câu hỏi “Xác suất sống sót với tỷ lệ 1/1000 là bao nhiêu?” Về lý thuyết, các mức giá do các nhà nghiên cứu đánh giá không nên để quá cách xa nhau. Tuy nhiên, ở câu hỏi đầu tiên, hầu hết mọi người không muốn trả hơn 2.000 đô la Mỹ; ở câu hỏi thứ hai, họ nghĩ rằng họ phải nhận được ít nhất 500.000 đô la Mỹ trước khi sẵn sàng tham gia thử nghiệm và thậm chí có nhiều người đã đưa ra câu trả lời là “Vô giá! Cho dù có cho bao nhiêu tiền thì họ cũng sẽ không tham gia.”

Giả thuyết hợp lý không có cách nào giải thích được kết quả này, điều này càng củng cố quyết tâm nghiên cứu kinh tế học hành vi của Thaler. Cho đến nay, trọng tâm của Thaler đã được đưa trở lại từ logic toán học sang hành vi của con người. Bởi có muôn ngàn sự phi lý nhưng cách đối nhân xử thế không hoàn toàn trái quy luật. Thaler và nhà tâm lý học Daniel Kahneman đã phân loại các mô hình chung về sự phi lý trí của con người và sử dụng chúng để dự đoán các mô hình hành vi của con người. Thaler và Kahneman lần lượt đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2017 và 2002. Tổng quan về kinh tế học hành vi của Thaler có thể được chia thành ba khía cạnh: “tính hợp lý có giới hạn”, “sự công bằng hợp lý” và “thiếu tính kỷ luật tự chủ”. 

Lý trí có hạn, con người lựa chọn dựa trên cảm xúc

Tính hợp lý có giới hạn lần đầu tiên được đề xuất bởi Herbert Simon, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1978. Điều đó có nghĩa là kinh tế học truyền thống cho rằng con người hoàn toàn hợp lý và tin rằng khi họ đưa ra lựa chọn, họ có thể thu thập được tất cả thông tin và đưa ra phương án có lợi nhất cho bản thân. Tuy nhiên, trong thực tế khả năng của con người có giới hạn, không thể nắm bắt được tất cả thông tin và kiến ​​thức, do đó, họ có thể không đưa ra được những quyết định có lợi nhất và chỉ có thể theo đuổi sự hợp lý có giới hạn. Nhưng nghiên cứu cả đời của Thaler lại mang tính toàn diện và để hiểu “nơi tính hợp lý của con người bị hạn chế” và phát triển các khái niệm như kế toán nhận thức (mental accounting) và hiệu ứng sở hữu (Endowment Effect). 

Kế toán nhận thức tức là trong đầu mỗi người sẽ chia ngân sách cho các đối tượng khác nhau, tiền này dùng để nghỉ hưu, tiền kia để đi du lịch nước ngoài. Điều này dẫn đến việc khi bạn cần sử dụng gấp, để không đụng đến số tiền trong một tài khoản nào đó, thì bạn sẽ đi vay ngân hàng, dẫn đến việc phải trả tiền lãi hàng tháng, điều đó đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải chi tiêu nhiều hơn so với việc rút tiền từ chính tài khoản của mình. Sự tồn tại của các tài khoản tinh thần cho phép mọi người giải quyết vấn đề chi phí một cách tốn kém hơn.

Ngoài ra, Thaler, Kahneman và Jack Knetsch đã cùng nhau đề xuất “Hiệu ứng sở hữu”, dùng để chỉ việc khi đánh giá giá trị của cùng một món đồ, người ta sẽ có đánh giá giá trị của nó cao hơn thứ mà họ chưa từng sở hữu. 

Có một chương trình thí điểm 24 giờ được thiết lập trong ngành công nghiệp ô tô của Hoa Kỳ. Các đại lý ô tô khuyến khích mọi người lái chiếc ô tô họ muốn mua về nhà và để qua đêm, sau đó sẽ sử dụng nó để đi hẹn hò, xem phim, cắm trại, v...v... Hầu hết mọi người đều có ý thức chấp nhận nó bởi vì họ đã được sở hữu nó, và cũng đã tận hưởng những lợi ích mà nó mang lại, vì vậy họ đã có những đánh giá khá cao về sản phẩm. Do đó, khi khách hàng thương lượng với nhân viên bán hàng, vì họ rất muốn sở hữu chiếc xe đó, nên nhân viên bán hàng có thể nhanh chóng thỏa thuận với họ mà không cần hạ giá của chiếc xe xuống.

Sự công bằng hợp lý

Hãy tưởng tượng tình huống này: sau một trận tuyết rơi dày đặc, nhiều người muốn mua một cái xẻng để dọn tuyết, tại một cửa hàng do lượng khách quá đông, người quản lý cửa hàng thấy nhiều người muốn mua xẻng và đã tăng giá của chúng lên. Bạn nghĩ như vậy có công bằng không?

Thaler đã lấy câu hỏi này để hỏi những người bình thường và sinh viên MBA. 82% người bình thường cho rằng điều đó là không công bằng và 18% cho rằng điều đó là công bằng; sinh viên MBA đưa ra câu trả lời ngược lại, 76% cho rằng điều đó là công bằng và 24% cho rằng điều đó là không công bằng. 

Nếu chúng ta tiến hành từ lý thuyết cung cầu của kinh tế học, thì điều đương nhiên xảy ra đó là lượng cầu tăng và số người muốn mua tăng thì giá cả sẽ tăng lên. Nhưng nghiên cứu này cho thấy trong lòng người tiêu dùng cảm thấy không công bằng khi cho rằng doanh nghiệp đang lợi dụng tình thế đó để cướp của một cách trắng trợn. Đây là lý do tại sao nhiều cửa hàng làm ăn phát đạt cuối cùng lại bị người tiêu dùng ghét bỏ và hiệu quả hoạt động của họ giảm mạnh. Do đó, việc định giá sản phẩm phải tính đến cảm nhận công bằng của người tiêu dùng để tích lũy lòng trung thành và sự công nhận của khách hàng đối với doanh nghiệp. 

Thiếu tính kỷ luật tự chủ

Lòng dân được chia thành “người lập kế hoạch” và “người thực hiện”. Người lập kế hoạch hình dung ra một hướng đi dài hạn và một mục tiêu tốt; người thực hiện sẽ bị cám dỗ trong ngắn hạn và đưa ra các lựa chọn theo sự bốc đồng. Ví dụ, rõ ràng tôi biết rằng bản thân cần tiết kiệm một khoản tiền lớn mới có thể nghỉ hưu, nhưng vì thời gian đó là quá dài nên tôi dùng số tiền đó để hưởng thụ ngay. Kết quả là khi về hưu, bản thân mới phát hiện ra rằng mình không có tiền để sống trong suốt quãng đời còn lại. Hoa Kỳ đang phải đối mặt với tỷ lệ tích lũy hưu trí không đủ, Thaler đã sử dụng nghiên cứu của mình để giúp chính phủ giải quyết vấn đề này.

Trước hết, Thaler nhận thấy rằng nhiều người đã không tham gia vào kế hoạch nghỉ hưu vì “lười biếng”, quá trình tham gia rất phức tạp, trước tiên bạn phải đánh dấu vào phần “tham gia” trên biểu mẫu, và bạn phải tính toán và xác định tỷ lệ phần tăm rút tiền và quỹ tham gia đầu tư của chính mình. 

Do đó, Thaler đã điều chỉnh “giá trị mặc định” từ mặc định không tham gia thành “tham gia, gửi tiền 3% mỗi tháng, đầu tư vào quỹ mặc định, nếu bạn không đồng ý, hãy tiến hành rút hoặc điều chỉnh.” Chỉ cần thay đổi giá trị mặc định, như vậy sẽ dễ dàng tăng tỷ lệ tham gia, từ hầu như không tham gia lên gần như tất cả đều tham gia. Tiếp theo, tỷ lệ ký quỹ mặc định là 3% tiền lương, sau khi tính toán, tính ra trung bình mỗi tháng phải gửi 10-15% tiền lương để dành dụm đủ quỹ lương hưu cho tuổi già, nhưng người dân thường không muốn tiết kiệm nhiều tiền như vậy. Thaler đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu của “những người lập kế hoạch và người thực hiện” và đưa ra phương án “Tiết kiệm thêm cho ngày mai”. 

Khi mới thêm khoản tiết kiệm hưu trí, hàng tháng bạn tiết kiệm được 3%, nhưng hứa sau khi được thăng chức hoặc tăng lương, bạn sẽ tăng tỷ lệ tiết kiệm. Ví dụ, nếu mức tăng lương 10%, số tiền mỗi tháng sẽ thay đổi từ 10.000 NDT lên 11.000 NDT, tỷ lệ tích lũy này sẽ tăng 3% hoặc 5%. Miễn là thời gian làm việc đủ dài, tỷ lệ tích lũy có thể đạt 10%. Cách tiếp cận này đã được hầu hết mọi người chấp nhận.

Kết luận

Mục đích của cuốn sách này là “từ những tính toán tàn nhẫn đến những cảm xúc máu thịt” làm chủ đề xuyên suốt cuốn sách, giới thiệu và thảo luận sâu rộng về cơ sở của nền kinh tế học mới nổi này – đó là “kinh tế học hành vi”. Tuy là nền tảng nhưng không chỉ là kiến ​​thức nhập môn mà còn bao gồm cả nền tảng, gốc rễ của cấu trúc lý thuyết. Ngoài việc là một cuốn sách nhập môn về kinh tế học hành vi, cuốn sách này còn nhằm khám phá những nguồn gốc tâm lý, xã hội và sinh học đằng sau hành vi kinh tế và củng cố nền tảng của kinh tế học hành vi. Trí óc con người không chỉ vận hành lý luận và tính toán logic hợp lý, mà còn tạo ra cảm xúc và trực giác. Lòng người quyết định hành vi của con người, cách đối nhân xử thế thúc đẩy sự vận hành của nền kinh tế, vì vậy ta cũng có thể nói rằng lòng người điều khiển sự vận hành của nền kinh tế. Tuy nhiên, kinh tế học truyền thống tin rằng con người quyết định hành vi thông qua các tính toán và suy luận hợp lý. Nhưng chúng ta dần biết được rằng phía sau những hành động và quyết định, cảm xúc và trực giác cũng đóng một vai trò quan trọng.

 

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend