Sự thật và hệ quả về khoảng cách giàu nghèo của Chủ nghĩa tư bản! Làm sao để thay đổi hiện trạng không bình đẳng.|InsHat

Sự thật và hệ quả về khoảng cách giàu nghèo của Chủ nghĩa tư bản! Làm sao để thay đổi hiện trạng không bình đẳng.

3288 InsHat

Không biết mọi người có cảm thấy bầu không khí của xã hội đang dần thay đổi trong 20 năm trở lại đây không? Những vụ án giết người ngẫu nhiên xảy ra thường xuyên, tình trạng mất an toàn xã hội lan rộng, triệu chứng trầm cảm phổ biến, tình trạng sức khỏe cộng đồng phần lớn có vấn đề, rào cản trong giao tiếp xã hội, cảm thấy cô đơn và xa cách, bị nghiện công nghệ, thà hi sinh giấc ngủ của mình cũng không muốn thoát FB hoặc IG, thờ ơ với những việc trong cộng đồng, ngày càng coi trọng cái tôi. Những vấn đề này tưởng chừng như không có mối quan hệ gì, nhưng chúng đều liên quan đến một điều đó là “khoảng cách giàu nghèo”.

Hôm nay tôi sẽ chia sẻ đến các bạn độc giả một cuốn sách có tên “The Inner Level”, nói về “khoảng cách giàu nghèo” rốt cuộc đã dẫn đến những tổn hại to lớn như thế nào. Tác giả của cuốn sách này là nhà dịch tễ học xã hội người Anh - Richard Wilkinson và Kate Pickett. Họ đã thảo luận 40 ảnh hưởng xấu mà khoảng cách giàu nghèo gây ra trong cuốn sách này và tôi chọn ra 4 mục tương đối có tiếng nói chung với mọi người để chúng ta bàn xem bốn ảnh hưởng lớn mà sự bất bình đẳng mang lại. Phương pháp nào hợp lý hoá bất bình đẳng giai cấp xã hội hiện nay và làm thế nào để tạo ra một xã hội bình đẳng hơn.

Hệ quả của khoảng cách giàu nghèo 1: Lo lắng về địa vị.

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia đang dần phát triển bao gồm Việt Nam GDP tăng trưởng đều qua các năm. Theo lý mà nói cuộc sống của người dân sẽ khá lên, nhưng trên thực tế những lo lắng trong cuộc sống của người dân ở những nước này không những giảm đi mà còn tăng lên. Tác giả cho rằng trong cuộc sống hiện đại này tiêu chuẩn vật chất của con người đã đủ để ăn no mặc ấm, cho nên sự kì vọng trong cuộc sống từ “có khả năng đáp ứng nhu cầu cuộc sống hay không” chuyển sang “ so sánh địa vị cao thấp với người khác”. 

Nhà kinh tế học Richard Layard chỉ ra một thực nghiệm tư tưởng như sau: Giả sử bây giờ có hai thế giới cho bạn lựa chọn. Một thế giới mỗi năm bạn kiếm được 50.000, những người khác kiếm được 25.000, thế giới thứ hai mỗi năm bạn kiếm được 100.000, những người khác kiếm được 250.000. Kết quả là đại đa số mọi người đều lựa chọn thế giới thứ nhất, tuy là kiếm được ít nhưng lại cao hơn người khác. Điều này nói lên rằng mọi người quan tâm hơn đến địa vị của mình và người khác trong xã hội và vị trí của mình trong mắt người khác.

Nhưng tác giả cũng chỉ thêm rằng tâm lý quan tâm đến đánh giá của người khác này thực chất phản ánh mức độ lo lắng của toàn xã hội. Nhà xã hội học đã khảo sát tâm lý người dân trên 31 nước châu âu phát hiện, ở những nước có khoảng cách giàu nghèo lớn bất luận là thu nhập cao hay thấp, mọi người đều lo lắng về địa vị xã hội, tức là trong xã hội bất bình đẳng cái mọi người quan tâm hơn cả là đánh giá về bản thân trong mắt mọi người. Chuyên gia tâm lý học gọi những đánh giá về sự lo lắng hoặc áp lực này là đe doạ đánh giá xã hội – Social Evaluative Threat, khi bản thân nhận được lời đánh giá không tốt từ người khác sẽ sản sinh ra loại tâm lý ảnh hưởng sức khoẻ phản ứng sinh lý. Lấy Việt Nam làm ví dụ khi mà xã hội của chúng ta quen với việc đánh giá địa vị xã hội của ai đó thông qua trình độ học vấn và nguồn lực tài chính, muốn thành công đạt được địa vị xã hội chúng ta phải để ý đến ánh mắt của mọi người trong xã hội, cho nên để nâng cao trình độ học vấn và có một công việc tốt, đều phải chịu áp lực học cao hơn và áp lực cạnh tranh trong công việc. Đằng sau những áp lực này đều phản ánh sự lo lắng về địa vị, lo lắng bản thân sẽ trở thành người trong tầng lớp hạ lưu không thể đạt được tiêu chuẩn thành công mà xã hội định nghĩa. Nhưng với những nước có khoảng cách giàu nghèo nhỏ ở Bắc Âu lại khác, mọi người không cần lo lắng thu nhập hay địa vị của mình bị thấp kém, cũng không phải chịu áp lực và lo âu mà đe doạ đánh giá xã hội mang lại. Thậm chí có nhà khoa học đã nghiên cứu huyết áp của những người tham gia đến từ 32 quốc gia,  phát hiện ra rằng chỉ có những người bản địa trong rừng nhiệt đới Amazon là không bị tăng huyết áp theo tuổi tác. Bởi vì trong các bộ lạc nguyên thủy không cần phải cảm thấy lo lắng bất an về địa vị giai cấp và không có sự so sánh về đe doạ đánh giá giai cấp. Từ đó có thể thấy khoảng cách giàu nghèo mang lại nhiều lo lắng và áp lực cho toàn xã hội.

Hệ quả của khoảng cách giàu nghèo 2: Bệnh tâm thần.

Việt Nam có khoảng 15% dân số, khoảng 13 triệu người có vấn đề về tâm thần. Nghiên cứu của Bộ Lao động và Xã hội Việt Nam cho thấy 2,8% người dân Việt Nam bị trầm cảm, 2,6% bị rối loạn lưỡng cực và 0,47% bị tâm thần phân liệt. Tổ chức WHO ước tính hiện nay có hơn 350 triệu người trên thế giới bị trầm cảm. Tại sao bệnh tâm thần lại ngày càng phổ biến? Tác giả đã so sánh 12 quốc gia giàu có và phát hiện ra rằng những xã hội có tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cao thì khoảng cách giàu nghèo cũng cao. Như tỷ lệ của Mỹ và Anh gấp ba lần của Nhật Bản và Đức, trong những năm gần đây tỷ lệ những nhân vật công chúng nói về những gì họ trải qua về chứng trầm cảm đều là người Mỹ hoặc người Anh. Ví dụ như: im Carrey, Colin Farrell, Robin Williams, Steven Rogers, Lady Gaga, Ellen Degeneres, JK Rowling. Nhưng tác giả cũng nói rằng nghiên cứu của ông cũng nhận về những nghi hoặc : “ Có khi nào rất nhiều người chỉ là đau khổ về tâm lý, sau đó bị bệnh lý hoá và chuẩn đoán thành bệnh?” Tác giả cho rằng, khi chúng ta gỡ bỏ cái mác bệnh tâm thần thì chúng ta cũng phải tự hỏi:”Vì sao trong xã hội có khoảng cách giàu nghèo lớn, nhiều người lại cảm thấy tâm lý đau khổ?” Hơn nữa tác giả cũng phát hiện ra rằng bệnh tâm thần cũng chịu ảnh hưởng từ “ tầng lớp xã hội” nói cách khác những người ở tầng lớp dưới hơn có tỷ lệ mắc bệnh tâm thần càng cao. 

Ở Anh tỷ lệ nam giới mắc bệnh trầm cảm ở tầng lớp thấp cao gấp 35 lần nam giới ở tầng lớp cao, vì vậy vấn đề cần giải thích là: “ Tại sao bệnh trầm cảm lại phổ biến ở nam giới tầng lớp thấp?”  Tác giả đưa ra một giải thích của tâm lý học tiến hoá, chúng ta có thể tưởng tượng trong lịch sử tiến hoá của loài người khi mà những người nguyên thuỷ nhỏ yếu tranh chấp với giai cấp mạnh hơn, thông qua cách họ khuất phục và tự nhận mình vai vế thấp hơn để tránh tổn hại và làm giảm phân tranh. Hoặc khi trẻ nhỏ mất đi sự bao bọc của người mẹ, bản năng sinh học sẽ thúc giục chúng phải gào khóc để phát ra tín hiệu cầu cứu, nhưng nếu trong thời gian ngắn không gọi được mẹ thì tiếng khóc của trẻ nhỏ có thể sẽ đem lại nguy hiểm, cho nên chúng sẽ không khóc nữa.

Từ hai ví dụ này chúng ta có thể tìm ra một khuôn mẫu hành vi tự bảo vệ bản thân. Ban đầu chúng ta cố gắng kiểm soát hành động của mình sau đó nhận thấy hành động của mình không hiệu quả, sau đó cảm thấy thất vọng, yếu đuối, cuối cùng khuất phục và không hành động.

Kiểu khuôn mẫu hành vi này có thể là một trong những lý do tại sao các tầng lớp thấp trong một xã hội bất bình đẳng dễ bị trầm cảm hơn. Bởi vì khi những người ở tầng lớp thấp gặp phải những tình huống không tự nguyện và không kiểm soát được trong cuộc sống của họ cơ chế tự bảo vệ tiến hóa sẽ được kích hoạt khiến họ không hoạt động và nghĩ rằng mình vô dụng. Đây là những triệu chứng điển hình của bệnh trầm cảm, có lẽ điều này giải thích cho việc nhiều người mắc bệnh trầm cảm nhấn mạnh: “Điều này nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.”  Chính sự bất bình đẳng xã hội khiến nhiều người mất đi quyền tự chủ của cuộc sống cuối cùng tạo nên sự khởi phát của bệnh tật.

Trên thực tế các nhà tâm lý học đã nghiên cứu những người trẻ tuổi ở Mỹ từ năm 1960 đến năm 2002 và khảo sát xem có bao nhiêu người nghĩ rằng những gì xảy ra trong cuộc sống họ có thể tự kiểm soát được và bao nhiêu người nghĩ rằng cuộc sống bị điều khiển bởi các ngoại lực như số phận và may rủi. Kết quả phát hiện cùng với khoảng cách giàu nghèo gia tăng trong nửa thế kỷ qua, ngày càng nhiều thanh niên Mỹ cảm thấy mất quyền tự chủ trong cuộc sống hơn nữa những người ở tầng lớp xã hội càng thấp họ càng cảm thấy không thể kiểm soát cuộc sống của mình. Điều này phản ánh rằng khoảng cách giàu nghèo của một quốc gia càng lớn thì người dân càng dễ cảm thấy những sự việc xảy ra trong cuộc sống của họ quá tầm kiểm soát của bản thân.

Hệ quả của khoảng cách giàu nghèo 3: Văn hoá tự luyến ( coi trọng bản thân quá mức).

Nếu như khoảng cách giàu nghèo quá lớn sẽ dẫn đến áp lực lo lắng về địa vị càng nghiêm trọng, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần ngày càng phổ biến, thì sức khoẻ tổng thể của người dân cũng sẽ bị ảnh hưởng. Tuổi thọ trung bình của người Mỹ đã giảm xuống còn 77 tuổi và của Nhật Bản là 82 tuổi, nhưng điều kỳ lạ là chỉ có 50% người dân Nhật Bản cho rằng họ khỏe mạnh còn ở Mỹ lại là 80%. Chuyên gia tâm lý cho rằng: Ở những quốc gia có khoảng cách giàu nghèo lớn người ta thường tự cảm thấy hài lòng về bản thân, nhưng loại tự cảm thấy hài lòng bản thân này lại khác hoàn toàn với lòng tự tôn, nó giống như là một loại tự tôn mang tính phòng vệ. Vì cạnh tranh trong xã hội ngày càng kịch liệt mọi người thường hi vọng sẽ thắng được người khác, nhận được sự đồng tình của mọi người cho nên khi gặp các đe doạ đánh giá xã hội, để không bị người khác coi thường và tránh cho bản thân bị tổn thương cơ chế tự vệ sẽ được kích hoạt, kết quả lại hình thành nên xu hướng tự luyến, tức là tất cả mọi người trong xã hội đều nỗ lực thổi phồng bản thân bảo vệ hình tượng của bản thân để tồn tại trong xã hội.

Lòng tự tôn phòng vệ này cũng có thể được tìm thấy trong các tộc nhóm bị phân biệt đối xử, ví dụ như đàn ông Mỹ gốc Phi sẽ quan tâm đến việc “được tôn trọng” hơn đàn ông da trắng hoặc các nhóm đồng tính sẽ nhấn mạnh hơn về việc “tự hào”khi thân phận được công nhận. Điều này thực tế là phản ánh họ đang phải đối mặt với rất nhiều đe doạ đánh giá xã hội, mà phải nỗ lực bảo vệ tự tôn. Cũng tương tự như vậy, lòng tự luyến ngày càng lan rộng phản ánh trong một xã hội mà khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn mọi người thiếu đi cảm giác an toàn, phải luôn tạo ra những vỏ bọc để cho người khác thấy mình đang sống rất tốt, có người có lẽ sẽ hỏi: “Cho dù tự luyến thì đã làm sao? Chả nhẽ yêu bản thân lại không tốt?” Tác giả cho rằng : Nếu tất cả xã hội đều coi “ quan tâm bản thân” làm đặc điểm tích cực thì việc "không quan tâm đến người khác" và "lợi dụng người khác" lại trở thành đặc điểm đáng theo đuổi. Kết quả sẽ dẫn đến trong giới lãnh đạo ngày nay, ngày càng có nhiều giám đốc điều hành cấp cao tự cho mình là trung tâm và thích kiểm soát, thích trèo lên đầu người khác và tận hưởng niềm vui khi sa thải nhân viên. Nhà tâm lý học tội phạm Robert Hare đã sử dụng thang đo thái nhân cách để đo lường và phát hiện ra rằng tổng điểm của các nhà quản lý cấp cao của các công ty lớn cũng cao bằng điểm của những kẻ thái nhân cách trong các nhà tù ở Bắc Mỹ.

Nhà Pháp học Joel Bakan thậm chí chỉ ra rằng, nếu một doanh nghiệp được coi là “ pháp nhân” để tiến hành phân tích thì có thể thấy văn hoá doanh nghiệp sau những năm 1970 càng ngày càng coi bản thân là trung tâm không quan tâm đến cảm nhận của người khác, không màng đến trách nhiệm xã hội, ràng buộc xã hội, cố tình dối trá mà không có chút cảm giác hối lỗi nào, hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn của chuẩn đoán thái nhân cách. Nhưng những điều này lại được phát triển từ văn hoá tự luyến mà ra đó chính là tác hại mà khoảng cách giàu nghèo quá lớn tạo ra. Ba hệ quả của khoảng cách giàu nghèo được đề cập ở bên trên về lâu về dài sẽ làm cho con người ta dễ dàng cảm thấy “ làm người thật khó, sống trên đời thật mệt” thà rằng ngừng theo đuổi việc được người khác công nhận, ngừng tạo các mối hệ xã hội, nhưng nhà tâm lý học Bruce Alexander phát hiện : Nếu xa lánh xã hội thì sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Ông ấy đã làm một thí nghiệm về bầy đàn chuột, phát hiện ra rằng, đám chuột sống theo nhóm trong bầy đàn ít có khả năng bị nghiện thuốc phiện hơn những con chuột sống một đơn lập. Hơn nữa nếu như đem con chuột đơn lập này thả vào đám chuột bầy đàn thì hiện tượng nghiện thuốc cũng bị mất đi. Điều này là do động vật đòi hỏi sự kết nối xã hội và cảm giác thân thuộc, nếu mối quan hệ xã hội ban đầu đáp ứng nhu cầu tâm lý của chúng bị mất, thì phải dùng thứ khác để bù đắp lỗ trống tâm lý ban đầu bị mất đi. Lúc này con người rất dễ bị nghiện, thay thế mối quan hệ giữa con người với con người bằng vật chất. Cho nên ở những khu vực có khoảng cách giàu nghèo lớn, liên kết xã hội yếu, có thể có nhiều người sử dụng thuốc quá liều, ăn uống không kiêng khem, mê chơi cờ bạc, mua sắm điên cuồng. 

Nhưng không phải tất cả các hành vi mua sắm đều là vì tránh xa giao lưu với người khác, tác giả phát hiện ra một mặt ngược lại, thói quen mua sắm của người hiện đại đã trở thành một phương thức kinh doanh hình tượng cá nhân. Ví dụ như có những người chuyên đi mua đồ cũ của các thương hiệu nổi tiếng, chỉ là để cho người khác thấy rằng bản thân cũng đã từng mua đồ hàng hiệu, cái mua về không phải là bản thân sản phẩm mà là muốn định hình bản thân thành người như thế nào. Công ty quảng cáo nắm được tâm lý lo lắng về địa vị này của người tiêu dùng cho nên ở những nước có khoảng cách giàu nghèo lớn thì con người càng lo lắng, các doanh nghiệp đầu tư kinh phí cho quảng cáo cũng khá lớn. Ngược lại tất cả các công ty đa quốc gia đều biết rằng, những quảng cáo xa xỉ không có thị trường ở Đan Mạch, bởi vì trong xã hội coi trọng bình đẳng như Đan Mạch con người không hề cần thiết phải “ phô trương sự giàu có” để chứng tỏ giá trị bản thân. Trên đây là bốn tác động tiêu cực lớn mà tác giả cho rằng khoảng cách giàu nghèo gây ra với xã hội: Lo lắng về địa vị, bệnh tâm thần, văn hoá tự luyến, hành vi bị nghiện. Nhưng cũng không thể nói rằng các vấn đề xã hội đều chỉ bắt nguồn từ khoảng cách giàu nghèo, đương nhiên nó cũng có các nguyên nhân khác, cái mà tác giả muốn nói là: Chỉ cần suy nghĩ, quan tâm đến nhân tố “bất bình đẳng”, thì chúng ta mới giải thích được tại sao các vấn đề này lại càng trở nên nghiêm trọng hơn trong xã hội bất bình đẳng.

Suy ngẫm về bất bình đẳng 1: Có phải xã hội vốn dĩ đã bất bình đẳng?

Bất cứ khi nào chúng ta gặp phải sự bất bình đẳng trong cuộc sống thường có câu: “Xã hội vốn dĩ không công bằng” hoặc “Bản chất con người là ích kỷ” dường như chúng ta muốn tồn tại được phải ích kỷ trèo lên người khác tiến về phía trước, trở thành một kẻ chiến thắng trong hệ thống bất bình đẳng này.

Ngay cả Hobbes một triết gia chính trị thế kỷ 17 cũng tin rằng bản chất con người là ích kỷ, vì vậy chính phủ cần được tổ chức để duy trì trật tự. Những câu nói này có thật sự đúng? Các nhà nhân loại học cố gắng tìm ra câu trả lời từ sự tiến hóa của xã hội loài người trong quá khứ, từ xã hội phân cấp trong thời kỳ vượn người, xã hội săn bắn hái lượm trong thời kỳ Homo sapiens cho đến xã hội nông nghiệp chỉ mới xuất hiện gần đây. Bởi vì tất cả người vượn trên Trái đất đều đã tuyệt chủng, cho nên chúng ta không thể biết hàng triệu năm trước chúng đã sống như thế nào. Nhưng các nhà nhân loại học có thể thông qua thể tích hóa thạch của cả hai giới tính để phán đoán tổ tiên người vượn của chúng ta chắc là sống trong xã hội có chế độ phân cấp, bởi vì thể tích tương đối của hoá thạch đực lớn hơn thể tích hóa thạch cái, điều này có nghĩa là những con đực có lợi thế sinh sản càng lớn thì càng có nhiều cơ hội sinh sản ra đời sau. Những con đực cấp thấp có ít cơ hội giao phối hơn vì vậy tổ tiên loài vượn người sớm nhất được chia thành các tầng lớp xã hội, giống như nhiều loài linh trưởng. 

Tuy nhiên các nhà nhân loại học đã phát hiện ra rằng, 250.000 năm trước tổ chức xã hội phân cấp này thực sự bắt đầu chuyển đổi thành một xã hội săn bắn hái lượm bình đẳng, thợ săn và thợ hái lượm mang thức ăn về bộ lạc, cùng nhau hưởng thụ, không có phân cấp cao thấp cho đến ngày nay cũng vẫn còn có rất nhiều quần thể sống bình đẳng giữa người săn bắn và người hái lượm. Vậy điều gì đã xảy ra với khái niệm bình đẳng đột nhiên xuất hiện ở loài người 250.000 năm trước? Một giả thuyết cho rằng vì phát triển kĩ thuật hợp tác để săn những con mồi lớn, mọi người đều phải mang vũ khí và khi mọi người đều có vũ khí thì kẻ có thể lực mạnh nhất cũng không thể đánh bại một nhóm người yếu hơn bằng vũ khí, cho nên chế độ phân cấp không tồn tại ở giai đoạn này.

Một quan điểm khác cho rằng dù muốn độc chiếm thành quả lao động tập thể thì một người cũng không thể ăn hết thịt, mà khi đó không có tủ lạnh, vậy thì thà ăn thịt sảng khoái với mọi người còn hơn sau này khi người khác đi săn cũng sẽ chia sẻ với bạn. Tuy nhiên ngay cả trong một xã hội bình đẳng như vậy vẫn sẽ xuất hiện người khát vọng trở thành kẻ thống trị và chiếm nhiều tài nguyên hơn. Cho nên bất cứ khi nào những người có thể gây ra xã hội bất bình đẳng xuất hiện, những người khác cảm thấy bị đe dọa và họ sẽ đoàn kết lại thực hiện "chiến thuật chống thống trị" để loại trừ kẻ thống trị khỏi cộng đồng, hoặc thậm chí trực tiếp xử tử họ.

Nhà nhân loại học Christopher Boehm tin rằng ý thức tập thể “ngăn chặn con người hủy hoại cộng đồng” này là nguồn gốc của đạo đức, chính sự xuất hiện của đạo đức đã làm thay đổi bản chất của các mối quan hệ giữa các cá nhân. Con người bắt đầu cân bằng giữa “lợi ích cá nhân” và “lợi ích tập thể”, do đó con người trở nên khác biệt với các loài linh trưởng có phân cấp.

Nói một cách đơn giản, từ 250.000 năm trước, nhân tính tiến hoá, bản chất con người phát triển thành động vật có đạo đức đồng thời mang “tư lợi” và cũng có “vị tha” . Cho đến khi phát minh kỹ thuật nông nghiệp ra đời từ 10.000 năm trước, tình trạng bất bình đẳng mới bắt đầu xuất hiện. Điều này có thể là vì sau khi người dân của nền văn minh nông nghiệp định cư các nhà kho tích trữ lương thực bắt đầu xuất hiện hoặc việc trồng các loại cây ngũ cốc đã tạo ra chế độ thuế khóa, dẫn đến chiến lược chống thống trị không thể chống lại được vấn đề phân bổ tài nguyên. Nhưng từ quan điểm lịch sử loài người, con người đã phát huy bản chất xã hội tương trợ chia sẻ và hợp tác trong một xã hội bình đẳng suốt 240.000 năm trong 250.000 năm qua. Cho nên xã hội không phải ngay từ đầu đã là không công bằng, sự tồn tại xã hội bất bình đẳng là một hiện tượng đặc biệt có thời gian ngắn hạn trong lịch sử loài người

Suy ngẫm về bất bình đẳng 2: Xã hội này rất công bằng?

Bên cạnh sự bất công vốn có của xã hội, còn có một câu nói rất phổ biến là “xã hội này rất công bằng”. “Công bằng” ở đây có nghĩa là dù xuất thân như thế nào, xã hội đều cho mọi người cơ hội như nhau để “cạnh tranh công bằng” cho một vị trí nào đó, vì vậy sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội là do khả năng của mỗi người vốn đã khác nhau. Nếu địa vị xã hội thấp có thể bạn chỉ nhận được 3 triệu VND, tức là bạn không có năng lực và không chăm chỉ. Bởi vì có “tài năng bẩm sinh” cộng với “ nỗ lực không ngừng” quyết định địa vị xã hội của bạn. Ngày nay quan điểm này được các nhà xã hội học gọi là "chủ nghĩa vị lợi" cho rằng sự khác biệt về năng lực cá nhân tạo ra sự khác biệt về địa vị xã hội.

Nhưng chúng ta có thể hỏi thêm: Căn cứ vào đâu để quyết định tài năng bẩm sinh và nỗ lực không ngừng? Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu những đứa trẻ từ 5 tháng đến 4 tuổi từ các gia đình khác nhau. Sau khi quét não của những đứa trẻ này và phát hiện ra rằng, khi trẻ nhỏ sinh ra được khoảng 5 tháng tuổi, thể tích chất xám của não là gần như giống nhau, nhưng khi trẻ lớn dần lên những đứa trẻ trong hộ gia đình nghèo sẽ có thể tích chất xám của não tương đối nhỏ, mà chất xám là khu vực có trách nhiệm phát triển và xử lý thông tin. Như vậy những đứa trẻ trong gia đình giàu có hay nghèo khó, khi sinh ra thì kết cấu đại não là tương tự nhau, nhưng khi đến tuổi mẫu giáo những đứa trẻ nhà nghèo làm trắc nghiệm IQ thấp hơn những đứa trẻ khác. Bởi vì trong điều kiện gia cảnh khó khăn bố mẹ không thể cho chúng một môi trường tốt, không có thời gian chăm sóc trẻnnhững điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của trẻ nhỏ. Do đó không phải là năng lực quyết định địa vị xã hội của một người mà là địa vị xã hội khi sinh ra của một người ảnh hưởng đến khả năng của anh tanvà càng ảnh hưởng đến địa vị xã hội sau này của anh ta.

Tuy nhiên nỗ lực không ngừng cũng có khả năng khắc phục hạn chế về gia cảnh. Chẳng hạn, để có được bằng lái một tài xế taxi ở London phải ghi lại hàng chục nghìn con phố ở London mà không cần nhìn bản đồ. Sau quá trình đào tạo lâu dài các nhà khoa học thần kinh đã phát hiện ra rằng, thể tích khối “Hồi hải mã” trong đại não được sử dụng để điều hướng không gian ba chiều đã thực sự trở nên lớn hơn.

Điều này có nghĩa là năng lực nhận thức của con người có thể thay đổi thông qua sự nỗ lực, trong môi trường làm việc lâu dài và kinh nghiệm thực tiễn sẽ lập trình lại đại não của bạn. Cho nên những đứa trẻ khi sinh ra có địa vị thấp có thể thông qua nỗ lực không ngừng để khắc phục hoàn cảnh gia đình. Nhưng cũng có rất nhiều người không thể khắc phục được mà trở thành tầng lớp hạ lưu của xã hội cho nên cái mà chúng ta cần làm đó là xóa bỏ chế độ bất bình đẳng lặp đi lặp lại của các gia đình nghèo để mọi người đều có thể sử dụng tài năng và năng lực của mình một cách hoàn thiện, chứ không phải sử dụng “xã hội rất công bằng, nhưng khả năng của bạn không đủ” để hợp lý hóa hiện trạng của bất bình đẳng.

Xoay chuyển bất bình đẳng 1: Cùng nhau phát tài ?

Trong mười năm qua tổng vốn đầu tư của Việt Nam đã tăng trưởng trung bình 12% mỗi năm. Ngoại trừ bong bóng kinh tế 2001 và khủng hoảng tài chính 2008, kinh tế đều tăng trưởng hàng năm, nhưng “GDP bình quân đầu người” và “lương thực tế” lại chênh lệch rất lớn. Chúng ta đều biết đây là kết quả của việc phân phối của cải không đồng đều, vì vậy ở đây tác giả để chúng ta suy ngẫm về một điều: “Tại sao chúng ta theo đuổi tăng trưởng kinh tế trong một xã hội bất bình đẳng?” Việc theo đuổi tăng trưởng kinh tế trong quá khứ là để làm cho cuộc sống tốt hơn. Trong hai trăm năm qua khi thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia tăng lên, tuổi thọ cũng sẽ tăng, tăng trưởng kinh tế có thể làm cho con người sống lâu hơn. Tuy nhiên dữ liệu gần đây cho thấy điều này không đúng, ở các nước giàu nhất tuổi thọ trung bình của người dân gần như ở mức tương đương với tiêu chuẩn, điều này không phải do tuổi thọ của con người đã trưởng thành đến mức giới hạn, mà là khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ thịnh vượng nhất định nó sẽ không liên quan đến tăng trưởng tuổi thọ. Ngoài tuổi thọ, hạnh phúc chủ quan của người dân cũng liên quan đến tăng trưởng kinh tế.

GDP của Mỹ đã tăng lên trong nửa thế kỷ qua, nhưng mức hài lòng về cuộc sống của người Mỹ đã giảm sút kể từ những năm 1970, tồi tệ hơn là tác giả cũng nhận thấy rằng ở những quốc gia có khoảng cách giàu nghèo lớn, các lãnh đạo doanh nghiệp sẽ ít chú ý các hiệp định quốc tế về bảo vệ môi trường nên các nước càng phấn đấu phát triển kinh tế sẽ càng gây hại cho môi trường sinh thái. Vì tăng trưởng kinh tế trong một xã hội phân bổ không đồng đều, chỉ làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, làm cho người lao động mệt nhọc, không cải thiện được cuộc sống mà còn gây ra khủng hoảng sinh thái trái đất, vậy tại sao chúng ta lại liều lĩnh theo đuổi tăng trưởng kinh tế?

Xoay chuyển bất bình đẳng 2: Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới.

Nếu chúng ta tiếp tục truy tìm nguyên nhân sâu xa của khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác giả chỉ ra rằng thực ra vào những năm 1980 tổng thống Reagan và bà Chachel của Vương quốc Anh đã bắt đầu thúc đẩy một hệ tư tưởng chính trị gọi là “chủ nghĩa tân tự do” chỉ đơn giản là phát triển kinh tế. Thông qua sự can thiệp của chính phủ để loại bỏ tất cả các lực lượng can thiệp vào thị trường, chẳng hạn như làm suy yếu các tổ chức công đoàn, tư nhân hóa các tiện ích công cộng và giảm thuế cho người giàu, những phương pháp này dường như làm cho thị trường tự do hơn và tối đa hóa lợi ích, nhưng dưới tình hình quyền lực bên lao động và bên đầu tư không ngang nhau thành quả của tăng trưởng kinh tế cuối cùng sẽ không vào túi người lao động, thậm chí chúng ta có thể thấy rằng trong 100 năm qua, thu nhập của người giàu ở Mỹ  tương đối đối ứng với sự lên xuống lực lượng của các liên đoàn lao động. Lực lượng liên đoàn càng mạnh thì tỷ lệ người giàu càng giảm. Trong trường hợp đó làm thế nào để tạo ra một xã hội bình đẳng hơn? Tác giả tin rằng có hai phương án để xoay chuyển hệ thống hiện tại:

Phương án 1: Thông qua biện pháp chính trị để tiến hành phân phối lại thu nhập.

Điều này thực ra cũng giống như giải pháp mà nhà kinh tế học Thomas Piketty đưa ra trong cuốn “Capital in the 21st Century” nhưng rất khó thực hiện, theo ước tính hiện nay từ 20 đến 30 nghìn tỷ đô la Mỹ ẩn trong các thiên đường thuế. Gần 90 % trong số 100 công ty hàng đầu có công ty con tại các thiên đường thuế, nhưng hiện không có luật quốc tế nào có thể thực thi để điều chỉnh chúng. Sau khi Trump nhậm chức ông đã ký một kế hoạch giảm thuế, cho phép các công ty lớn như Amazon và Netflix được miễn thuế với thu nhập hàng năm hơn chục tỷ như Amazon mà không cần phải trả một xu, nhưng những người bình thường bị bên đầu tư lấy mất đi tiền thì phải đóng thuế để sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ công của đất nước. Rõ ràng thế giới cần một cuộc cải cách thuế quy mô lớn thì mới có thể phân phối lại thu nhập và xoay chuyển sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo.

Phương án 2: Dân chủ kinh tế.

Đó là sử dụng sức mạnh dân chủ để điều chỉnh thị trường kinh tế và giảm chênh lệch lao động giữa cấp trên và cấp dưới của công ty, chẳng hạn như để công đoàn của công ty tham gia vào hội đồng quản trị và để người lao động tham gia xây dựng các quy chế của công ty. Ví dụ: Ở Đức năm 1951 đã có quyền đưa ra các quyết định chung, yêu cầu một phần ba ban giám đốc của các công ty niêm yết phải là đại diện của nhân viên hoặc thành lập một tổ chức của doanh nghiệp do nhân viên làm chủ, chẳng hạn như hợp tác xã nhân viên Tây Ban Nha “Mendragon”, mọi người vừa là người sản xuất vừa là người đồng sở hữu công ty. Trong công ty không có hệ thống giai cấp mà thay vào đó phương thức sản xuất của công ty được xác định thông qua hội nghị dân chủ. Cho nên trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế năm 2008 không có ai trong hợp tác xã Mendragon thất nghiệp. Người ta thấy rằng nếu nhân viên nội bộ được phép nắm giữ cổ phần và tham gia vào việc quản lý công ty, thì năng suất, sự sáng tạo và sự hài lòng của nhân viên sẽ tăng lên, vì nhân viên sẽ sẵn sàng làm việc hơn trong một môi trường dân chủ, điều này sẽ làm tăng doanh thu của công ty và giảm chênh lệch thu nhập.

Trên thực tế chúng ta cũng có thể nghĩ : Tại sao chúng ta yêu cầu bảo vệ hệ thống dân chủ trong lĩnh vực chính trị, nhưng lại cho phép hệ thống công ty chuyên quyền ở nơi làm việc? Khoa học và công nghệ ngày càng tiến bộ và tư duy của chúng ta cũng phát triển theo. Chúng ta không biết Việt Nam và thế giới sẽ như thế nào nếu khoảng cách giàu nghèo tiếp tục mở rộng. Nhưng chúng ta biết tiếp tục theo đuổi tăng trưởng kinh tế đã không thể nào đáp ứng được mức độ hài lòng của người dân hệ thống bất bình đẳng đã không thể nào nhận được sự bao dung từ người dân nữa. Và thế giới này cần một sự thay đổi hoàn toàn triệt để phân phối lại thu nhập và dân chủ kinh tế không phải là hai phương pháp viển vông, mà là một kế hoạch cải cách có thể thực hiện được. Nếu bạn cũng đang suy nghĩ về việc làm thế nào để thay đổi hiện trạng, tôi chân thành khuyên mọi người nên đọc cuốn “The Inner Level” này và suy nghĩ về cách xây dựng một xã hội bình đẳng hơn.

Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn khái niệm cốt lõi là giảm khoảng cách giàu nghèo, vì khoảng cách giàu nghèo liên quan mật thiết đến chất lượng của các mối quan hệ xã hội. Chúng ta muốn tạo ra một bầu không khí xã hội tương trợ và cùng có lợi hay để mọi người trở thành kẻ thù của chính mình và đối đầu với nhau?

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

 

Similar

Recommend