Chiến tranh sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào? Hiệu ứng cửa sổ vỡ là sự thật hay ngụy biện? | Những kiến thức trong Kinh tế học mà mọi người có thể hiểu.|InsHat

Chiến tranh sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào? Hiệu ứng cửa sổ vỡ là sự thật hay ngụy biện? | Những kiến thức trong Kinh tế học mà mọi người có thể hiểu.

2547 InsHat

Câu chuyện về Hiệu ứng cửa sổ vỡ.

Tôi tin rằng nhiều người trong chúng ta đã từng nghe một câu chuyện rằng, vào một ngày nọ, một đứa trẻ đang chơi đá bóng trên đường và đã vô tình làm vỡ cửa kính của cửa hàng ven đường. Để sửa lại chiếc kính bị vỡ, chủ cửa hàng đã phải trả tiền thuê một người thợ đến sửa cửa sổ. Mặc dù cửa sổ bị hư hỏng nhưng những người hàng xóm chứng kiến đã thuyết phục và an ủi chủ cửa hàng đừng buồn.

Lý do là, nếu kính cửa sổ không bị vỡ, thì chẳng phải chủ cửa hàng đã bỏ tiền mua kính mới? Vậy thì, công nhân thủy tinh sẽ không có việc để làm? Còn nhờ vậy người thợ kính đã có thêm thu nhập, anh ta sẽ bỏ tiền ra mua đồ ăn, quần áo và tiêu dùng, để các cửa hàng khác kinh doanh nhiều hơn, chủ các cửa hàng này sẽ kiếm tiền và đi tiêu.

Vì vậy, mặc dù cửa sổ bị vỡ là một việc tiêu cực hiện tại, nhưng nó sẽ thúc đẩy kinh tế địa phương, thúc đẩy tiêu thụ nhiều hơn, đồng thời cho phép nhiều cửa hàng phát triển hơn. Nhìn chung, nó có không hẳn là một việc tiêu cực. Đây chính là Hiệu ứng cửa sổ vỡ nổi tiếng.

 

Hiệu ứng cửa sổ vỡ là gì?

Đó là về việc tạo ra của cải thông qua sự phá hủy. Mặc dù người chủ cửa hàng bị lỗ lúc đầu, nhưng những người thợ thủy tinh lại có thêm thu nhập, và thu nhập thêm được dùng để tiêu dùng, làm tăng thêm nhu cầu mới, và theo hiệu ứng số nhân tiếp tục thúc đẩy nhu cầu nhiều hơn. Cái mất của chủ cửa hàng là chuyện một sớm một chiều, nhưng cơ hội mang lại lợi ích cho xã hội là cả một chuỗi.

Do đó, kết luận của Hiệu ứng cửa sổ bị vỡ là, một mảnh kính có thể được đổi lấy nhiều thứ khác và cả sự phát triển công nghiệp. Ở đây, ưu điểm vượt trội hơn là nhược điểm. Câu chuyện này bề ngoài thì có vẻ là hợp lý, nhưng có vẻ như luôn có một vấn đề khi bạn hãy suy nghĩ kỹ về nó. Nếu nền kinh tế thực sự hoạt động như thế này, không phải tất cả chúng ta nên đập kính sao? Nhưng đây không phải là những gì chúng ta thấy trong cuộc sống hàng ngày.

Vào thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Pháp là Frédéric Bastiat đã phản bác lại lý thuyết này bằng một bài báo nổi tiếng, " That Which Is Seen and That Which Is Not Seen and The Law” (Điều mà có thể nhìn thấy và điều không thể nhìn thấy và Pháp luật), trong đó để phản bác lại lý thuyết này ông đã chỉ ra rằng những hành vi vừa nêu chỉ là những hiện tượng nhìn thấy được, còn có rất nhiều hiện tượng vô hình, chẳng hạn như, chủ cửa hàng đã bỏ ra 980.000 đồng để sửa lại mặt kính, điều này đã mang lại hiệu quả kinh doanh mới cho những người thợ làm kính, nhưng cũng chính chủ cửa hàng ấy chắc hẳn cũng không sẵn sàng bỏ ra 980.000 đồng để làm một cái váy mới.

Nghĩa là trong khi thợ kính được lợi, thì người thợ may lại làm ăn thua lỗ, chiếc kính mới mua chỉ thay thế được chiếc kính vỡ ban đầu chứ không cải thiện được mức vật chất tổng thể. Nói cách khác, cửa sổ vỡ không mang lại sự tăng trưởng của cải nhưng nó lại hoàn thành việc chuyển giao của cải, chuyển số tiền có thể là thu nhập của một thợ may vào túi của những người thợ thủy tinh, toàn bộ quá trình này đã không thực sự tạo ra của cải mới hoặc tạo ra việc làm mới.

Ngoài ra, Frédéric Bastiat cũng nhấn mạnh rằng nếu cửa sổ không bị hư hại và chủ cửa hàng được miễn phí trả 980.000 đồng, thì rất có thể anh ta sẽ chi tiền cho một sản phẩm hoặc dịch vụ hiệu quả hơn, và vì cửa sổ bị hỏng nên chủ cửa hàng đã phải chấp nhận chi số tiền đó cho phí sửa chữa cửa sổ. Cửa sổ vỡ chỉ buộc chủ cửa hàng phải thực hiện một khoản tiêu dùng, nhưng nó không nhất thiết phải là mức tiêu thụ tối ưu.

Theo quan điểm của Frédéric Bastiat, Hiệu ứng cửa sổ vỡ thực chất chỉ là một sự ngụy biện. Hiệu ứng cửa sổ vỡ chỉ xét đến lợi ích nhìn thấy được mà không tính đến chi phí cơ hội vô hình. Khi kính bị vỡ, việc mua cái mới là lẽ đương nhiên, vì vậy mọi người nhìn thấy công việc kinh doanh mới cho những người thợ thủy tinh, nhưng họ không nhận thấy khả năng thua lỗ kinh doanh của những người thợ may, đó là chi phí cơ hội vô hình. Và những gì chúng ta đề cập vừa rồi chỉ tính đến hiệu ứng kinh tế, nếu chúng ta sử dụng phương pháp kinh tế học hành vi để phân tích hiện tượng này và tính đến các hoạt động tâm lý và chỉ số hạnh phúc của con người, thì tác động của Hiệu ứng cửa sổ vỡ sẽ không hề đơn giản.

Cửa sổ bị vỡ gây khó chịu cho chủ cửa hàng vì không ai muốn trả tiền để sửa cửa sổ ngoài chính mình. Giả sử chủ cửa hàng chi tiền cho một bộ quần áo mà anh ta luôn muốn, và thậm chí chủ cửa hàng có thể sẵn sàng chi nhiều hơn để gia cố cửa sổ nhằm ngăn chúng bị vỡ. Các nhà kinh tế học hành vi gọi đây là tâm lý học Loss Aversion (Ác cảm mất mát) hay Thuyết triển vọng (Prospect Theory), nghĩa là một chủ cửa hàng có thể sẵn sàng chi 2,45 triệu đồng để giữ cho cửa sổ không bị hư hại, hơn là trả 980.000 đồng để sửa chữa chúng. Về mặt hạnh phúc, cửa sổ vỡ khiến chủ cửa hàng bị thiệt hại. Có nhiều tác động kinh tế học hành vi không thể thấy được của việc cửa sổ vỡ, do đó nếu chúng ta lùi lại một bước và nhìn nhận lại toàn xã hội thì sẽ thấy không chỉ có mỗi chủ cửa hàng này thôi đâu.

 

Cuộc thử nghiệm cửa sổ vỡ

Năm 1969, Philip Zimbardo, một nhà tâm lý học tại Đại học Stanford đã làm một cuộc thử nghiệm như sau, ông đã tìm thấy hai chiếc ô tô mui trần giống hệt nhau, ông đã mở mui của hai chiếc xe và đặt một trong số chúng vào tầng lớp trung lưu có mức thu nhập cao hơn cộng đồng và an ninh ở đay cũng tương đối an toàn, trong khi chiếc xe kia đậu trong khu phố có an ninh tương đối không an toàn, và chiếc xe đậu ở khu phố có an ninh kém an toàn đã bị mất trộm trong vài giờ, còn chiếc xe kia đậu ở khu vực an ninh tương đối an toàn trong vài ngày thì không ai quan tâm.

Tuy nhiên, Zimbardo đã có một hành động táo bạo vào thời điểm này, anh ta đập vỡ cửa kính của chiếc ô tô bị bỏ qua, và chiếc xe cũng đã bị đánh cắp trong vòng chưa đầy một ngày trong cùng một cộng đồng. Kết hợp với thí nghiệm này, các nhà tâm lý học đã đưa ra học thuyết về hiệu ứng cửa sổ vỡ. Giả sử một cửa sổ bị hỏng mất nhiều ngày để sửa, thì những người qua đường nhìn thấy cửa sổ bị hỏng có nhiều khả năng là người ngỗ ngược.

Ví dụ: vứt rác bừa bãi hoặc vẽ bậy lên tường, v.v. Cửa sổ bị vỡ cũng có thể khiến khu dân cư cảm thấy không an toàn đối với những người lạ không biết nguồn gốc sự việc. Đây đều là những tác động tiêu cực của việc cửa sổ bị vỡ mà chúng ta có xu hướng mất khả năng nhìn thấy trong thời gian ngắn. Và kinh tế học là để giúp chúng ta tìm ra những lợi ích và mất mát vô hình này bằng một tầm nhìn hợp lý. Những chân lý này thực ra rất đơn giản, nếu quan sát kỹ sẽ thấy có rất nhiều ví dụ về sự sai lầm của cửa sổ vỡ trong cuộc sống, chẳng hạn như chiến tranh. Nhiều người sẽ nói rằng chiến tranh có thể kích thích sự phát triển kinh tế, mặc dù trong quá trình đó sẽ gây ra nhiều thiệt hại nhưng nền kinh tế sẽ phát triển nhanh chóng sau chiến tranh, họ cảm thấy rằng chiến tranh đã tạo ra nhu cầu, đồng thời, con người có mất đi những gánh nặng cũ, gánh nặng trước kia của họ.

Ví dụ, sau chiến tranh, nhiều cơ sở hạ tầng bị phá hủy và người ta cần xây dựng lại đường xá, xây nhà, may quần áo và làm các nhu cầu thiết yếu hàng ngày khác nhau, điều này đã tạo ra nhu cầu và những nhu cầu này sẽ thúc đẩy sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế. Đồng thời, do nhiều cơ sở trước đây đã bị phá hủy nên người dân cần mua thiết bị mới, thiết bị mới này phải được trang bị công nghệ tiên tiến hơn,và hiệu quả sản xuất có cao hơn thiết bị cũ không? Họ cũng thường lấy Đức và Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai làm ví dụ, cho rằng lý do Đức và Nhật phát triển nhanh hơn Pháp và Anh trong thời kỳ hậu chiến là do không còn các nhà máy cũ và các nhà máy mới với hiệu quả sản xuất cao hơn được xây dựng, liệu điều này có đúng không? Nếu nhìn theo quan điểm của Frédéric Bastiat vừa rồi, thực ra còn nhiều kẽ hở, chẳng hạn như chiến tranh có thực sự tạo ra nhu cầu? Đây có phải là những nhu cầu mà người dân thường mong muốn? Nếu chúng ta lấy ví dụ về người chủ cửa hàng vừa rồi để phân tích, việc sửa cửa sổ bị hỏng là việc phải làm (Cần), và việc không nhất thiết là việc anh ta muốn làm (Muốn).

Có nghĩa là, chiến tranh hủy hoại của cải của con người, vì vậy những gì được tạo ra chỉ là nhu cầu cần thiết chứ không phải nhu cầu mong muốn. Chiến tranh chỉ chuyển những nhu hằng ngày ban đầu của con người sang nguồn cung cấp quân sự, và số tiền đáng lẽ có thể được sử dụng để xây dựng trường học lại được chi vào máy bay và đại bác. Nói cách khác, con người thực sự đã chuyển nhu cầu vốn không có trong chiến tranh sang những năm sau chiến tranh. Từ quan điểm của toàn xã hội, năng suất không được cải thiện và mức sống của người dân cũng không được cải thiện. Và Frédéric Bastiat đã bác bỏ luận điểm rằng việc tiêu hủy thiết bị cũ và thay thế thiết bị mới có thể mang lại hiệu quả sản xuất cao hơn, bất kỳ nhà máy hoặc thiết bị sản xuất nào cũng có tỷ lệ khấu hao riêng (Depreciation rate), chỉ khi giá trị ròng của tài sản gần bằng giá trị còn lại thì nhà máy đó mới thực sự có lợi trong việc tiêu hủy. Thực ra, bạn hãy thực sự nghĩ về nó mà xem, nếu bạn thực sự có thể cải thiện năng suất bằng cách phá hủy thiết bị cũ, thì tất cả các công ty nên tiêu hủy thiết bị vào cuối năm chứ, tại sao vẫn cần phải tính tỷ lệ khấu hao hàng năm trong báo cáo tài chính? Tại sao chúng ta phải phân tích tác động của các phương pháp khấu hao khác nhau mỗi khi chúng ta đọc báo cáo tài chính? Chỉ trực tiếp phá hủy nó.

 

Tổng kết

Vì vậy, kinh nghiệm sống của chính chúng ta cũng cho chúng ta biết rằng dường như có một vấn đề với lập luận rằng cửa sổ vỡ có thể cải thiện hiệu quả, nhưng mọi thứ đều có hai mặt, và kinh tế học cũng không ngoại lệ sẽ có những quan điểm khác nhau. Ví dụ, theo quan điểm của nhà kinh tế học John Maynard Keynes, Hiệu ứng cửa sổ vỡ không phải là sai lầm trong một trường hợp nào đó, John Maynard Keynes tin rằng khi suy thoái kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp cao và người dân mất niềm tin vào tương lai, người dân sẽ có xu hướng giảm tiêu dùng và tiền tiết kiệm tiền, lúc này do hoạt động kinh tế giảm đi nên sẽ có nhiều người thất nghiệp hơn và đi vào vòng luẩn quẩn, để phá vỡ vòng luẩn quẩn này thì cần phải có một số biện pháp kích thích kinh tế nhằm tạo ra nhu cầu trong nền kinh tế để kích thích việc làm. Nói cách khác, khi nền kinh tế suy thoái, chi phí cơ hội để sửa cửa sổ bị vỡ là tương đối thấp, bởi vì mức độ sẵn sàng chi tiêu của mọi người tương đối thấp, người tiêu dùng không có niềm tin vào tương lai, và không ai dám bỏ ra hay đầu tư, vào lúc này việc sửa chữa các cửa sổ hỏng sẽ buộc người ta phải tiêu số tiền mình tiết kiệm được, rồi sau đó sử dụng hiệu ứng số nhân để làm kinh tế vận động. Vậy ai đúng, ai sai khi so sánh John Maynard Keynes và Bastiat? Trên thực tế, đây là vẫn đang là một vấn đề vẫn còn đang được tranh luận trong kinh tế học.

Frédéric Bastiat và John Maynard Keynes mà chúng tôi vừa giới thiệu thực sự thuộc về hai trường phái kinh tế học hoàn toàn trái ngược nhau. Một là trường phái Áo (Austrian School) ủng hộ chủ nghĩa cá nhân tự do. Trường phái còn lại là Học thuyết John Maynard Keynes, ủng hộ sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, và Học thuyết John Maynard Keynes là điều mà chúng ta có thể đã nghe một chút về nó qua “Thỏa thuận mới của Roosevelt” (New Deal của Roosevelt) khi chúng ta học lịch sử. Về phần Trường phái Áo, nếu bạn không phải là dân chuyên ngành kinh tế thì bạn có thể sẽ ít tiếp xúc hơn. Nếu bạn muốn biết những kiến ​​thức này, tôi muốn giới thiệu một cuốn sách tên là "Kinh tế học trong một bài học" (Economics in One Lesson ) và đây cũng là cuốn sách bán chạy nhất nổi tiếng trong lịch sử kinh tế học Hoa Kỳ. Tác giả Henry Hazlitt là một chuyên mục kinh tế quan trọng của Tạp chí Phố Wall trong thế kỷ trước và là một trong những nhà kinh tế học nổi tiếng của Trường phái Áo. Đây là một cuốn sách kinh tế học đơn giản và hay, dễ đọc.

Nhưng tất nhiên, vì xuất phát từ lập trường của Henry Hazlitt, cuốn sách này chủ yếu dựa trên các ý tưởng của Trường Kinh tế Áo để thảo luận về các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế và xã hội thực tế, và bác bỏ một số ngụy biện trong các lý thuyết kinh tế, cũng như ý kiến ​​của các trường phái kinh tế khác nhau về lý thuyết này. Nó giúp mọi người hiểu được suy nghĩ của các trường phái kinh tế khác nhau và nghe thấy những tiếng nói khác nhau. Tất nhiên, chúng ta không cần phân biệt ai đúng ai sai, nhưng không có gì là sai hay là hại nếu tiếp xúc và học hỏi nhiều hơn. Cuối cùng, tôi cầu chúc cho hòa bình thế giới.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm những kiến ​​thức mới về đầu tư và quản lý tài chính hay chia sẻ những thủ thuật và câu chuyện đầu tư mạo hiểm, hãy đọc bài tiếp theo: Phân tích báo cáo tài chính Nvidia đơn giản và dễ hiểu nhất: nó cạnh tranh với AMD như thế nào ? Thị trường card đồ họa như thế nào? Metaverse sẽ là điểm phát triển trong tương lai?

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend