Chủ nghĩa tư bản là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế như thế nào? Bong bóng Bitcoin là gì? Máy móc đã làm ảnh hưởng đến người lao động và nguy cơ mất việc làm? Cuốn sách cần đọc để hiểu về xã hội hiện đại.|InsHat

Chủ nghĩa tư bản là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế như thế nào? Bong bóng Bitcoin là gì? Máy móc đã làm ảnh hưởng đến người lao động và nguy cơ mất việc làm? Cuốn sách cần đọc để hiểu về xã hội hiện đại.

2536 InsHat

Chủ nghĩa tư bản là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế như thế nào? Bong bóng Bitcoin là gì? Máy móc làm ảnh hưởng đến người lao động và nguy cơ mất việc làm? Cuốn sách cần đọc để hiểu về xã hội hiện đại.

Một cuộc khảo sát được thực hiện tại Hoa Kỳ vào năm 2019 đã chỉ ra rằng trong mười năm qua, những người Mỹ ở độ tuổi dưới 30 tuổi ngày càng có cái nhìn tiêu cực hơn đối với “chủ nghĩa tư bản”. Vì vậy ngày hôm nay tôi muốn chia sẻ cuốn sách “Bức thư về kinh tế học bố gửi”. Cuốn sách kể về câu chuyện một vị giáo sư về kinh tế học cố gắng dùng những câu từ đơn giản dễ hiểu nhất để giải thích cho cô con gái hiểu thế nào là chủ nghĩa tư bản. Tác giả của cuốn sách này Yanis Varoufakis là nhà kinh tế học nổi tiếng tại Đại học Athens - Hy Lạp ông từng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp, năm 2015 ông cũng đại diện cho chính phủ Hy Lạp đàm phán về cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp với Liên minh Châu Âu. Ông nhận thấy rằng hầu hết họ đều đang trong quá trình đối phó với cuộc khủng hoảng nợ quốc gia Hy Lạp. Trong quá trình xử lý khủng hoảng nợ công của Hy Lạp ông phát hiện thấy phần lớn công chúng đều không hiểu sự vận hành của chủ nghĩa tư bản, nhưng đây là lực lượng chủ chốt quan trọng đối với huyết mạch của toàn xã hội và nó không thể được xử lý chỉ bởi đội ngũ các chuyên gia. Vì vậy trong cuốn sách này tác giả quyết định sử dụng cách đơn giản nhất để nói với độc giả thế nào là chủ nghĩa tư bản.

Trong hàng triệu năm về trước tổ tiên loài người đã sống theo lối sống săn bắt và hái lượm, nhưng cho đến 12.000 năm trước con người mới bắt đầu sản xuất lương thực và cuộc sống nông nghiệp tự cung tự cấp. Một giả thuyết cho rằng điều này có thể là do thời điểm đó dân số đang tăng lên nhưng con mồi và trái cây ngày càng giảm, điều này gây ra cuộc khủng hoảng lương thực và con người phải tìm cách mới để tồn tại, vì vậy nông nghiệp thực sự xuất hiện khi loài người đang rơi vào giai đoạn diệt vong. 

Từ nông nghiệp đến bất bình đẳng.

Nhưng sau khi nông nghiệp xuất hiện xã hội loài người xuất hiện một loạt thay đổi. Trước tiên nông nghiệp tạo ra thặng dư, sau khi ăn xong ngũ cốc vẫn còn dư thừa và mang tích trữ, điều này chưa từng xuất hiện trong xã hội săn bắt hái lượm bởi vì thịt, cá, hoa quả đều là những đồ không thể để lâu được cho dù bạn có muốn thì cũng không có cách nào để tích trữ cả.

Tiếp đó thặng dư tạo nên sự xuất hiện của nền văn minh, để thuận tiện hơn cho việc quản lý mỗi người nông dân đều cất giữ ngũ cốc của họ vào một kho chứa chung, sau đó họ ghi chép lại số lượng cất giữ của từng người lại để làm chứng cứ, đó cũng chính là nguồn gốc xuất hiện chữ viết Lưỡng Hà. Có chữ viết cũng như phương pháp ghi chép, loài người có thể khắc chữ viết trên vỏ sò để ghi chép lại họ đã nợ người khác bao nhiêu ngũ cốc và đó chính là nguồn gốc của món nợ.

Và đến khi lượng vỏ sò lưu thông nhiều đến mức tất cả mọi người đều sử dụng thì đồng tiền xuất hiện, nhưng lúc này xuất hiện một vấn đề, nếu tôi muốn sử dụng đồng tiền là vỏ sò để trao đổi hàng hoá với người khác thì làm thế nào để người ta có thể tin tưởng rằng vỏ sò này chính bằng tất cả những lượng ngũ cốc đã được ghi chép lại trên nó, vậy nên cần phải có một tổ chức đáng tin cậy để đảm bảo giá trị của tiền tệ vì vậy nhà nước xuất hiện.

Người cai trị phái các quan chức và quân đội để duy trì trật tự kinh tế của xã hội để người dân tin rằng nhà nước là một tổ chức bảo đảm về tiền tệ và tín dụng. Nhưng nhóm người này tức là giai cấp thống trị, bản thân họ không cần phải lao động mà chỉ cần chia phần thặng dư nông nghiệp do nông dân sản xuất ra, tất nhiên nông dân không phải là kẻ ngốc để điều này xảy ra như vậy. Những kẻ thống trị nhà nước sợ nông dân sẽ nổi dậy họ liền đưa ra một hệ tập hợp các tư tưởng hợp lý hóa sự bất bình đẳng và nói với mọi người rằng kỹ thuật nông nghiệp thực sự đã được một vị thần từ hành tinh khác truyền dạy cho con người trên trái đất và nhà vua là hậu duệ của vị thần này và từ đó các giáo sĩ tôn giáo chịu trách nhiệm xây dựng huyền thoại này đã được sinh ra. Người cai trị cung cấp lợi ích vật chất cho giáo sĩ, còn giáo sĩ cung cấp tính chính đáng (legitimacy) cho kẻ thống trị, khiến mọi người tin rằng hệ thống kinh tế bất bình đẳng là bình thường do đó nông nghiệp tạo ra thặng dư.

Logic thị trường.

Thặng dư tạo nên nền văn minh, nền văn minh lại tạo ra sự bất bình đẳng. Chuỗi quá trình này chưa từng xảy ra tại các nước theo chủ nghĩa dân chủ như Châu Phi, Châu Âu bởi vì ngay từ đầu họ đã không đi theo hướng sản xuất nông nghiệp. Trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, hầu hết các hoạt động sản xuất trong xã hội đều diễn ra trong phạm vi gia đình, cụm từ kinh tế trong tiếng Hy Lạp cổ có ý nghĩa là quản lý gia đình. Đôi khi nếu mùa màng bội thu có sản phẩm dư thừa họ có thể mang nó đi trao đổi những hàng hoá mà họ không sản xuất được với người khác, lúc này cần phải lo giá trị giữa các hàng hoá được trao đổi với nhau, hàng hoá trở thành vật có giá cả.

Không gian được sử dụng để tiến hành trao đổi hàng hoá được gọi là thị trường. Trong xã hội chủ nghĩa tư bản phạm vi trao đổi hàng hoá thị trường dường như được mở rộng đến tất cả mọi thứ, từ đất đai, bằng sáng chế, tử cung của người mang thai hộ đều có thể bị thương mại hoá, có thể nói xã hội chủ nghĩa tư bản tương đương với xã hội thị trường. Bởi vì trong xã hội truyền thống phạm vi giao dịch của thị trường thường tập trung tại các thị trường của thị trấn nhỏ và logic theo đuổi lợi nhuận lại không thể chi phối toàn xã hội. Chẳng hạn sau chiến tranh thành Troy người Hy Lạp cổ đại tranh cãi xem ai có thể sở hữu cổ vật do Achilles để lại, nếu sử dụng logic của giao dịch thị trường cách làm đơn giản đó chính là tổ chức một cuộc đấu giá, ai đưa ra giá cao nhất thì người đó có thể mua được nó.

Tuy nhiên người Hy Lạp cổ đại đã có thể tranh luận “ai đủ tư cách sở hữu nó” thông qua các bài phát biểu, cuối cùng Odysseus, người chế tạo ra con ngựa thành Troy, được công nhận là ứng cử viên phù hợp nhất, vì vậy thứ mà người Hy Lạp cổ đại theo đuổi không phải là giá trị của bản thân hiện vật mà là niềm vinh dự được công nhận bởi những người cùng thế hệ đằng sau câu chuyện có được cổ vật kia. Nếu bạn sử dụng phương pháp đấu thầu thị trường trong trường hợp này, nó sẽ trở thành một điều xấu hổ, bởi vì nó có nghĩa là bạn chỉ giàu có chứ không được công chúng công nhận.

Tại đây có một điểm khác biệt rất quan trọng, logic của thị trường chú ý đến giá trị trao đổi của một đồ vật, tức là nó đáng giá bao nhiêu nhưng người Hy Lạp cổ đại lại coi trọng “giá trị trải nghiệm” của một đồ vật, tức là cảm nhận của họ như thế nào. Ví dụ kể một câu chuyện cười với một người bạn, ngắm hoàng hôn trên bãi biển và cùng mọi người dọn dẹp nhà cửa, những điều này có giá trị trải nghiệm nhưng không có giá trị trao đổi.

Nhưng đặc điểm chính chủ nghĩa tư bản chính là xu hướng thương mại hoá tất cả mọi thứ. Họ tin rằng cách làm này sẽ mang lại lợi ích lớn nhất, một ví dụ kinh điển chính là câu chuyện về thị trường máu. Nhà xã hội học người Anh Richard Titmuss phát hiện rằng hệ thống hiến máu tại Anh theo hướng tự nguyện, người hiến máu đến hiến máu miễn phí trong khi hệ thống hiến máu tại Hoa Kỳ lại theo định hướng thị trường và người hiến máu sẽ được trợ cấp bằng tiền. Các nhà kinh tế ban đầu cho rằng sử dụng phương pháp thương mại hoá việc hiến máu sẽ có tác động mạnh mẽ kích thích mọi người tham gia hiến máu nhiều hơn, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy, với định hướng thị trường tại Hoa Kỳ tỉ lệ người dân tự nguyện tham gia hiến máu tương đối thấp, việc sử dụng tiền làm trợ cấp chính là trở ngại của những người hiến máu. Bởi vì sau khi việc hiến máu được thương mại hoá, niềm vui từ trải nghiệm giúp đỡ người khác của người hiến máu bỗng tan biến, thay vào đó là cảm giác như thể họ hiến máu chỉ vì mục đích kiếm tiền, chính vì lẽ đó mà tinh thần tự nguyện tham gia hiến máu của họ ngày càng ít đi. Đây là hệ quả của việc để giá trị trao đổi được ưu tiên hơn giá trị trải nghiệm. Đồng thời nó cũng phản ánh một vấn đề, đó chính là cơ chế thị trường thực chất không toàn năng như các nhà kinh tế học nghĩ. Nếu nói logic thị trường của chủ nghĩa tư bản là một khái niệm mới trong lịch sử thì lịch sử loài người đã biến đổi thành xã hội tư bản như thế nào? Để chủ nghĩa tư bản hoạt động thì nó phải có hoạt động sản xuất và để sản xuất ra nó phải có ba yếu tố cơ bản:

Thứ nhất: Nguyên liệu và công cụ sản xuất.

Trong kinh tế học tư liệu sản xuất gồm các thiết bị cơ sở hạ tầng, máy móc cần thiết phục vụ cho công việc.

Thứ hai: Đất đai, không gian.

Chẳng hạn: Nông trường, nhà máy, phòng làm việc.

Thứ ba: Sức lao động.

Ba thứ này không phải là hàng hóa lưu thông trên thị trường trong xã hội truyền thống, bởi vì công cụ sản xuất có thể do nghệ nhân và nông nô tự làm ra, đất đai do quý tộc thừa kế và khái niệm thị trường lao động hoàn toàn không tồn tại. Bởi vì lãnh chúa hoặc chủ nô trực tiếp thu hoạch thành quả của nông nô, nhưng để hình thành xã hội thị trường tư bản chủ nghĩa thì những yếu tố sản xuất này trước hết phải trở thành hàng hoá. Vậy quá trình này được diễn ra như thế nào?

Sự ra đời của xã hội thị trường.

Sau công cuộc khám phá địa lí vĩ đại, một nhóm thương nhân giàu có bắt đầu xuất hiện ở châu Âu, các lãnh chúa và địa chủ lúc bấy giờ lo ngại những người này có thể trở nên giàu có hơn cả các nước đối thủ trong tương lai nên đã nghĩ ra cách từ bỏ nền nông nghiệp theo mô hình sản xuất nguyên thủy, giải phóng nông nô trên đất nông nghiệp, sau đó xua đuổi tất cả những người nông nô đó đi và sử dụng toàn bộ đất đai để chăn nuôi cừu, vì lông cừu có lợi nhuận cao nhất trên thị trường quốc tế. Đây là phong trào bao vây (Enclosure Movement) bắt đầu vào cuối thế kỷ 15 ở Nước Anh. Một số lượng lớn nông nô bị trục xuất bị mất công cụ sản xuất ban đầu và buộc phải rời bỏ đất đai nguyên thủy. Yếu tố sản xuất duy nhất còn xót lại của họ chính là sức lao động của chính mình, họ bắt đầu đến các chợ để tìm kiếm cơ hội làm việc và sức lao động biến thành hàng hoá. Đây chính là giai cấp công nhân đầu tiên trong lịch sử, hay còn gọi là giai cấp vô sản, những người nông nô tưởng như đã được giải phóng, nhưng họ lại trở thành những người lao động “tự do” ký hợp đồng lao động, nhưng thực chất họ buộc phải bán sức lao động của chính mình để tồn tại.  

Tiếp đó sau khi lãnh chúa đuổi nông nô đi, họ thấy rằng việc tự mình nuôi cừu quá phiền phức, chi bằng tư nhân hóa ruộng đất và cho người khác thuê. Như vậy đất đai cũng đã trở thành hàng hóa, vậy số đất này sẽ cho ai thuê đây? Đó chính là những nông nô bị trục xuất nhưng có tinh thần kinh doanh, cuối cùng sau đi một vòng thì nông nô lại quay trở về với mảnh đất ban đầu của họ, nhưng bây giờ họ đang đóng vai trò như một nhà đầu tư mạo hiểm, họ muốn mua hạt giống, thuê đất, thuê lao động và bán lông cừu. Chuỗi quy trình này chỉ có thể bắt đầu khi họ có một khoản tiền, vậy tiền ở đâu ra? 

Họ chỉ có thể vay tiền của lãnh chúa hoặc của địa phương với mức lãi cao, vì vậy nhà đầu tư ngay từ đầu đã mắc một món nợ, điều này khiến nhà đầu tư phải đưa ra mục tiêu tất yếu phải hướng tới đó là lợi nhuận, nếu không sẽ trở thành nô lệ của nợ. Bởi vì trong thời đại phong kiến ​​trước đây, nông nô sản xuất trước sau đó mới phân phối phần thặng dư từ thành quả lao động cho lãnh chúa. Nhưng bây giờ thì hoàn toàn ngược lại. Đầu tiên nhà tư bản phân bổ các khoản nợ, tiền thuê và tiền lương phải trả và trước tiên tính toán xem họ phải kiếm được ít nhất là bao nhiêu để có lãi, sau đó họ mới bắt đầu làm việc. Chính áp lực nợ nần này đã tạo ra động lực để các nhà tư bản cạnh tranh với nhau, cách tốt nhất để tăng năng suất là cải tiến công nghệ sản xuất và giảm lương lao động.

Do đó động cơ hơi nước, máy kéo sợi bông và nhân công giá rẻ bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18. Nếu động cơ hơi nước xuất hiện ở Ai Cập cổ đại chúng sẽ không hữu dụng chút nào vì Ai Cập cổ đại đã có đủ nguồn nhân lực nô lệ, tại sao lại sử dụng động cơ hơi nước? Nhưng nếu suy nghĩ đến vấn đề làm sao để dùng ít nhân lực nhất vẫn có thể đạt năng suất cao nhất thì động cơ hơi nước lại rất hữu dụng. Vì vậy chính sau khi động cơ chạy theo lợi nhuận nhiều hơn trở thành động lực của lịch sử, thúc đẩy cuộc Cách mạng công nghiệp ra đời, đây chính là quá trình ra đời của chủ nghĩa tư bản.

Các khoản vay gây ra khủng hoảng kinh tế.

Giả sử bạn muốn vay 1 triệu, ngân hàng sẽ lấy 1 triệu đó ở đâu? Nhân viên ngân hàng sẽ gửi 1 triệu vào tài khoản của bạn sau khi xem xét bảng cân đối kế toán của bạn và tiền sẽ xuất hiện trong tài khoản của bạn. Tiếp theo ngân hàng sẽ tìm một số nhà đầu tư để chia sẻ khoản vay, như vậy có thể thu lại ngay số tiền 1 triệu vừa cho vay, nhưng tại sao các nhà đầu tư lại sẵn sàng giúp ngân hàng gánh vác rủi ro? Vì ngân hàng sẽ trả cho nhà đầu tư lãi suất, tuy nhiên lãi suất sẽ thấp hơn lãi suất ngân hàng cho vay, nên ngân hàng tính lãi suất cao hơn với người cho vay, sau đó cho nhà đầu tư lãi suất thấp hơn, để thu được mức lợi nhuận lớn nhất, bởi vì khoản vay về bản chất là vay tiền của bản thân trong tương lai. Điều gì sẽ xảy ra nếu không kiếm được tiền để trả cho khoản vay đó?

Ví dụ vào những năm 1920 khi số tiền vay ngân hàng quá lớn mà nền kinh tế nói chung không thể theo kịp, tức là khi lợi nhuận do hệ thống kinh tế tạo ra không đủ để trả nợ, thì toàn bộ hệ thống sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế. Đầu tiên doanh nghiệp cho vay phá sản, nhân viên công ty thất nghiệp, nhân viên thất nghiệp không có lương, kéo theo đó là ngày càng nhiều doanh nghiệp đóng cửa, thông tin ngân hàng không thu hồi được lại số tiền cho vay lan truyền rộng rãi. Mọi người đều đến ngân hàng để lấy lại tiền gửi, gây ra cảnh rút tiền hàng loạt đầy hỗn loạn.

Ngân hàng với nhà nước.

Khi ngân hàng không trả được tiền và tuyên bố phá sản, tất cả tiền tiết kiệm của người gửi tiền đều biến mất trong một tích tắc, khiến người dân không còn khả năng thanh toán tiền mua nhà trả góp, không ai có khả năng mua lại nhà khi ngân hàng thu hồi nhà để bán đấu giá, cuối cùng toàn bộ thị trường nhà đất sụp đổ. Lúc này chỉ có nhà nước can thiệp thì mới cứu được nền kinh tế, vậy họ phải làm sao? Chính phủ phải đảm bảo rằng tiền tiết kiệm của người gửi tiền sẽ không bốc hơi và cho phép ngân hàng trung ương tạo ra một lượng lớn tiền tệ mới, khi nền kinh tế phục hồi trở lại trạng thái bình thường, ngành ngân hàng sẽ lại bắt đầu cho vay một cách không kiểm soát, bởi vì họ biết rằng ngay cả khi họ đã vượt quá giới hạn, chính phủ chắc chắn sẽ ra tay để giúp đỡ.

Ở đây chúng ta có thể thấy một mâu thuẫn: Khi nền kinh tế ổn định các chủ ngân hàng và nhà tư bản sẽ chỉ trích rằng việc đánh thuế của chính phủ sẽ cản trở hoạt động kinh doanh tự do, nhưng khi nền kinh tế suy thoái, họ lại đứng ra yêu cầu chính phủ cứu trợ. Trên thực tế khi chủ nghĩa tư bản mới phát triển là nhờ nhà nước cử quân đội đến đàn áp nông nô và công nhân nổi loạn để duy trì trật tự xã hội mà các nhà tư bản mong muốn và cũng chính nhờ chính phủ sử dụng thuế để duy trì cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và an ninh đô thị thì các giai cấp tư bản mới có một môi trường kinh doanh thân thiện, nhưng cách họ báo đáp cho chính phủ lại là từ chối nộp thuế. 

Tác giả cũng chỉ ra rằng nếu muốn xử lý được vòng luẩn quẩn của khủng hoảng kinh tế và chính sách cứu trợ của chính phủ thì mâu thuẫn cơ bản phải đối mặt đó là động cơ kinh tế của chủ nghĩa tư bản được thúc đẩy bởi nợ của ngành ngân hàng, vì vậy hệ thống kinh tế càng phát triển, ngành ngân hàng càng trở nên sôi động, điều này cũng đồng nghĩa với việc xã hội phải đối mặt với sự bất ổn càng lớn hơn. 

Sự ra đời của đồng tiền ảo.

Sau trận sóng thần tài chính năm 2008 mọi người trên khắp thế giới tỏ ra không tin tưởng vào các ngân hàng và chính phủ, vì vậy một số người bắt đầu có những suy nghĩ liệu chúng ta có thể tạo ra một loại tiền tệ không bị kiểm soát bởi các ngân hàng và chính phủ hay không. Kết quả là vào ngày 31 tháng 10 năm 2008, một tác giả có bút danh “Satoshi Nakamoto” đã viết một bài báo đề xuất sử dụng các thuật toán để tạo ra một loại tiền kỹ thuật số phi tập trung hoá và phi chính trị hóa. Tức là tiền tệ tập trung trước đây sẽ có cơ quan trung ương quản lý giao dịch, ví dụ khi bạn quẹt thẻ tín dụng thì để lại ghi chép giao dịch, còn Bitcoin thì không có cơ quan trung ương mà chính mọi người có thể giám sát lẫn nhau trong các giao dịch, điều này sẽ đảm bảo tính hợp pháp. Và cũng không ai biết họ đang giám sát giao dịch của ai, do đó sẽ bảo vệ được quyền riêng tư.

Sự thiếu xót của hệ thống của Bitcoin.

Sự xuất hiện của Bitcoin dường như là một cuộc cách mạng tiền ảo do tư nhân khởi xướng, hiện nay nhiều người đang bắt đầu đầu tư vào Bitcoin nhưng tác giả chỉ ra rằng việc phi chính trị hóa Bitcoin tưởng như là một lợi thế nhưng thực ra lại là nhược điểm lớn nhất của nó. Bởi vì đầu tiên tất cả các vụ trộm cắp và gian lận xảy ra trong Bitcoin đều không thể được phục hồi thông qua chính phủ hoặc các kênh pháp lý. Ví dụ trong vòng tròn Bitcoin khi có vấn đề hacker xâm nhập xảy ra, những nhà kinh doanh sẽ cung cấp dịch vụ lưu trữ bitcoin của khách hàng trong một máy chủ an toàn, sau đó tiến hành thu phí. Kết quả là nhân viên bảo mật của máy chủ đã lấy bitcoin của khách hàng và sau đó biến mất nhanh chóng.

Vấn đề thứ hai càng nguy hiểm hơn là do số lượng bitcoin là cố định, chỉ có thể khai thác tối đa 21 triệu nên khi số lượng bitcoin không đổi, nhưng ngày càng nhiều hàng hóa được sản xuất bitcoin sẽ trở nên hiếm hơn, giá của hàng hóa được dung để đổi lấy Bitcoin sẽ thấp đi, tức là sẽ xảy ra giảm phát. Hàng hóa rẻ hơn cũng sẽ dẫn đến tiền lương giảm, nếu tốc độ giảm của lương nhanh hơn tốc độ giảm giá hàng hóa, sức mua của người lao động sẽ giảm và cuối cùng thị trường có thể sẽ sụp đổ. 

Nếu tiền tệ do chính phủ phát hành trong quá khứ gặp khủng hoảng như vậy, chính phủ có thể giảm giá tiền tệ bằng cách sản xuất một lượng lớn tiền tệ và trở lại tình trạng kinh tế ổn định ban đầu, vì vậy cụm từ tiền tệ trong tiếng Hy Lạp cổ có ý nghĩa pháp lý, tiền tệ dùng để chỉ nó là một phương tiện trao đổi được đảm bảo bởi luật pháp của chính phủ và mọi người có thể tin tưởng rằng giá trị trao đổi của nó sẽ duy trì ở trạng thái ổn định. Đây là lý do tại sao tiền tệ từ thời cổ đại đến nay sẽ được in tem chính thức để đảm bảo rằng việc lưu thông tiền tệ sẽ tiếp tục được kiểm soát bởi chính phủ, nhưng để loại bỏ sự can thiệp của nguồn cung tiền, ngay từ thời điểm bắt đầu Bitcoin đặt ra một số lượng cố định và không có một tổ chức nào có thể can thiệp vào việc điều chỉnh lượng tiền và hậu quả là thị trường tiền ảo sẽ bùng nổ trong tương lai khi xảy ra khủng hoảng Bitcoin. 

Trên thực tế trong lịch sử cũng đã sớm xảy ra hiện tượng này, khi xảy ra khủng hoảng kinh tế ở những năm 1930, để duy trì chế độ bản vị vàng (Gold standard) chính phủ các nước trên thế giới đều lựa chọn không thay đổi lượng cung tiền tệ, duy trì lượng tiền tệ và số lượng vàng ở một tỉ lệ nhất định, kết quả là người dân sống dở chết dở. Mãi cho đến năm 1933 khi Roosevelt’s New Deal tách lượng tiền và vàng ra khỏi nhau nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Vì vậy vấn đề của chủ nghĩa tư bản không phải là chính trị hóa tiền tệ, mà là người dân có thể làm chủ hóa tiền tệ trong điều kiện tất yếu của chính trị hóa tiền tệ, tức là để cho chính sách tiền tệ của đất nước chăm lo cho lợi ích của công chúng, chứ không phải lợi ích của số ít ngân hàng và giai cấp tư bản.

Chủ nghĩa tư bản hoàn toàn tự động.

Chúng ta hãy tưởng tượng rằng nếu trí tuệ nhân tạo trong xã hội tương lai có thể đảm nhận tất cả công việc của con người, cho dù đó là đổi mới, thiết kế hay nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tất cả đều có thể được giao cho người máy, thì con người sẽ được giải phóng khỏi sức lao động và có càng nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để làm những gì mình thích. Tuy nhiên xét theo tình hình hiện nay, ngày càng nhiều ngành công nghiệp phát triển theo hướng tự động hóa, nhưng chỉ có số ít chủ doanh nghiệp và nhà tư bản được hưởng khối tài sản khổng lồ do khoa học kỹ thuật mang lại, trong khi người lao động đang đối mặt với tình trạng bị đào thải bởi người máy.

Những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản.

Nhà triết học Marx tin rằng việc theo đuổi lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản chắc chắn sẽ dẫn đến sản xuất tự động hóa, nhưng trước khi máy móc hoàn toàn thay thế con người, chủ nghĩa tư bản trước hết sẽ nổ ra một cuộc khủng hoảng, bởi vì bản chất của chủ nghĩa tư bản theo đuổi lợi nhuận sẽ tạo ra ba loại lực lượng:

Thứ nhất: Tiến bộ công nghệ và sản xuất tự động hóa sẽ giảm chi phí lao động. 

Thứ hai: Sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất sẽ làm giảm giá bán sản phẩm. 

Thứ ba: Sử dụng người máy thay thế sức lao động không biết tiêu dùng.

Người lao động bị giảm sức chi tiêu do không có việc làm nên nhu cầu về sản phẩm trên toàn thị trường sẽ giảm, sự phát triển của ba lực lượng này chắc chắn sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa giảm mạnh, mâu thuẫn cũng từ đó mà xuất hiện, vì tư bản muốn có lợi nhuận thì bắt buộc giá cả phải cao hơn giá thành, nhưng các hành động của tư bản để tạo ra lợi nhuận đã làm cho giá cả giảm mạnh, dẫn đến tình trạng công ty cắt giảm nhân lực, doanh nghiệp đóng cửa và ngân hàng phá sản. Nó đã gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế hết lần này đến lần khác trong lịch sử. Đây là lý do tại sao Marx tin rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống tự hủy diệt, bởi vì nó sẽ không ngừng tạo ra các lực lượng chống lại chính nó, nhưng điều này cũng mang lại cho người lao động một hy vọng rằng thị trường tư bản đòi hỏi phải có khả năng hoạt động ổn định, tức là không nên để máy móc thay thế hoàn toàn sức người, cũng không nên phản đối việc công đoàn đòi tăng lương, rút ​​ngắn thời gian làm việc.

Bởi vì người lao động được trả lương cao hơn một chút thì mới có các hoạt động người tiêu dùng mua sắm, sản phẩm trên thị trường được tiêu thụ, điều đó hoàn toàn có lợi cho phía tư bản. Còn nếu để người lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp không kiếm ra tiền, các sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra sẽ không có người mua và cuối cùng người gặp thiệt hại lại chính là phía tư bản. 

Vậy liệu chúng ta có thể tận dụng được năng lực sản xuất mà khoa học kỹ thuật mang lại, đồng thời có thể thoát khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế định kỳ của chủ nghĩa tư bản hay không? Trong cuốn sách này tác giả đề xuất một phương pháp cho phép cả nhân loại được hưởng thành quả kinh tế do thành tựu khoa học và công nghệ mang lại, đó là đưa máy móc, thiết bị của mỗi công ty trở thành tài sản chung của mọi người và mọi người đều có tỷ lệ sở hữu nhất định đối với công cụ đó, cho nên lợi nhuận do khoa học và công nghệ tạo ra sẽ được phân phối một tỷ lệ nào đó cho từng công nhân thay vì bị tư bản chiếm dụng. Bằng cách này, các vấn đề về cung vượt cầu và sụp đổ giá cả do tự động hóa gây ra cũng sẽ được giải quyết nhờ sự gia tăng sức tiêu thụ của người lao động. Câu hỏi duy nhất là liệu giai cấp tư bản có cho phép mọi người làm điều này hay không?

Chủ nghĩa tư bản xanh.

Khi vụ cháy rừng nhiệt đới Amazon bùng phát vào năm 2019, dù có mất bao nhiêu rừng, động vật, đất đai thì dường như cũng không thiệt hại gì về mặt kinh tế, bởi vì môi trường sinh thái chỉ có giá trị trải nghiệm và không có giá trị trao đổi, nhưng đội ngũ lính cứu hỏa, nhiên liệu máy bay, những biện pháp chữa cháy này lại có giá trị trao đổi, nó có thể làm tăng nhu cầu thị trường. Ban đầu thảm họa sinh thái gây ra bởi sự nóng lên toàn cầu do khai thác quá mức nền kinh tế, nhưng hiện nay nền kinh tế đã trở nên thịnh vượng hơn do thảm họa sinh thái. Chủ nghĩa tư bản có thể kiếm bộn tiền bằng cách phá hủy môi trường, Vì vậy khi thảo luận về vấn đề môi trường, một số người cho rằng nếu tài nguyên thiên nhiên không có giá trị trao đổi, thì chúng ta hãy trao giá trị trao đổi cho nó, đưa tài nguyên thiên nhiên gia nhập vào nền kinh tế thị trường, tức là thương mại hoá giới tự nhiên, vì nếu những tài nguyên thiên nhiên này có thể trở thành hàng hóa để giao dịch, mọi người sẽ vì nhận được lợi ích từ nó mà quản lý tốt hơn. 

Thị trường hóa tài nguyên thiên nhiên?

Một trong những ví dụ điển hình nhất là vấn đề ô nhiễm không khí, nhiều quốc gia đã bắt đầu thiết lập thị trường giao dịch quyền carbon. Các công ty chỉ có thể thải ra một lượng khí nhà kính nhất định, các công ty thải ra nhiều khí thải có thể mua quyền carbon từ những công ty không sản xuất khí thải. Những người tán thành việc sử dụng thị trường để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tin rằng ô nhiễm sẽ được giảm bớt, bởi vì nếu một công ty có quyền carbon dư thừa có thể được bán cho các công ty khác, thì mọi người đều có động cơ để giảm lượng carbon và sau khi thị trường hóa, mức giá của quyền carbon có thể được xác định dựa trên tình hình cung và cầu hiện tại, điều này tránh được vấn đề hiệu quả thị trường kém khi có sự can thiệp của chính phủ.

Nhưng tác giả chỉ ra rằng để giải quyết vấn đề về giao dịch quyền carbon, điều kiện tiên quyết là phải có sự can thiệp của chính phủ, vì việc xác định giới hạn ô nhiễm và mức phạt khi vượt tiêu chuẩn bắt buộc phải dựa vào những quy định mà chính phủ xây dựng ngay từ đầu, vì vậy các công ty lớn này không phản đối sự can thiệp của chính phủ mà là phản đối với sự can thiệp của chính phủ có thể gây tổn hại đến lợi ích của họ. Tác giả tin rằng để vấn đề biến đổi khí hậu cho thị trường giải quyết, điểm mấu chốt vẫn là logic của chủ nghĩa tư bản, đó là để giá trị trao đổi bao trùm lên giá trị trải nghiệm. 

Nếu chúng ta thực sự muốn giải quyết những thiệt hại của chủ nghĩa tư bản đối với môi trường trái đất, chúng ta nên đánh thức lại sự chú ý của mọi người về giá trị trải nghiệm và để mọi người biết rằng chúng ta vẫn có thể nhìn thấy môi trường sinh thái phong phú như hiện nay chính là thứ cho dù có dùng bao nhiêu tiền đi chăng nữa cũng chẳng thể mua được lại nếu sự kiện thảm hoạ sinh thái xảy ra trong tương lai. Ví dụ chính phủ Ecuador đã hợp tác với người Achuar bản địa, tiến hành sửa đổi hiến pháp mới để bảo vệ rừng nhiệt đới Amazon. Giải pháp cơ bản nhất đó là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng phải được dân chủ hóa, không nên vì lợi ích của một số ít các nhà tư bản doanh nghiệp và các cổ đông mà cho họ quyền quyết định tự ý khai thác môi trường và phát thải khí nhà kính, những hành động đó lại bắt mọi người trên hành tinh phải gánh chịu hậu quả của sự nóng lên toàn cầu. 

Kết luận.

Vì vậy vấn đề mà thế hệ chúng ta phải đối mặt là trên cơ sở thừa nhận sự hạn chế trong logic thị trường của chủ nghĩa tư bản, làm thế nào để dân chủ hóa quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, dân chủ hóa công cụ sản xuất của doanh nghiệp để tạo ra của cải và làm thế nào để dân chủ hoá chính sách tiền tệ điều tiết nền kinh tế. Cuối cuốn sách này tác giả kể về một câu chuyện ngắn, vào những năm 1930, nhà nhân chủng học người Anh Evans Pritchard đã đến Châu Phi để nghiên cứu các bộ lạc của người Azande và nhận thấy rằng người Azande rất coi trọng những lời tiên tri của các thầy tế, nhưng điều kỳ lạ là những lời tiên tri này cuối cùng đã được chứng minh là sai nhưng các thầy tế vẫn nắm giữ quyền lực trong bộ lạc. Evans Pritchard giải thích rằng điều này là do người Azande quá tin vào những quyền năng huyền bí nên khi những lời tiên tri đó không đúng với những gì thực tế diễn ra họ sẽ cảm thấy bí ẩn hơn và họ nghĩ rằng phải có một thế lực bí ẩn hơn đứng đằng sau.

Và trong xã hội của chúng ta ngày nay, cũng có một nhóm người đã dự đoán sự phát triển kinh tế của xã hội trong tương lai sẽ như thế nào, bởi vì ngôn ngữ họ sử dụng quá khó hiểu và công chúng tin rằng họ phải có khả năng tiên tri nhất định. Nhưng trên thực tế mô hình dự đoán của họ chỉ có thể xuất hiện sau khi xóa các biến số của các vấn đề thực tế, khi dự đoán không thành công, họ sẽ nói với công chúng rằng đó là do chính phủ đã can thiệp quá nhiều hoặc thị trường lao động đã bị ảnh hưởng bởi các liên đoàn lao động hoặc đưa ra vô số các tuyên bố bí ẩn hơn rằng xã hội thị trường có bàn tay vô hình. Chính vì những tuyên bố này mà mọi người sẽ không nhận ra rằng họ đang sống trong một hệ thống kinh tế đầy thiếu sót và ta gọi đó là “chủ nghĩa tư bản”. Nếu bạn muốn biết chủ nghĩa tư bản đã đến ngày hôm nay như thế nào, tại sao thế giới lại bất bình đẳng như vậy và làm thế nào chúng ta có thể thay đổi nó theo hướng dân chủ, thì tôi khuyên bạn nên đọc cuốn sách này nội dung của cuốn “Bức thư tình về kinh tế học bố gửi” và tôi hy vọng nó có thể mang lại cho bạn một gợi ý nào đó. 

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend