Có thể tìm thấy tiền tệ trên khắp đất nước không? “Lý thuyết tiền tệ hiện đại” Lý thuyết kinh tế hot nhất toàn cầu sẽ tiết lộ sự thật về hệ thống tiền tệ|InsHat

Có thể tìm thấy tiền tệ trên khắp đất nước không? “Lý thuyết tiền tệ hiện đại” Lý thuyết kinh tế hot nhất toàn cầu sẽ tiết lộ sự thật về hệ thống tiền tệ

2807 InsHat

Trước tác động của đợt dịch viêm phổi do virus corona chủng mới, Chính phủ Việt Nam đã giảm thiểu tác động tiêu cực của nó đến người sử dụng lao động và người lao động, hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi sản xuất, ổn định sản xuất kinh doanh, bảo đảm an toàn tính mạng và cuộc sống cho người lao động. Chính phủ đã phân bổ 26 nghìn tỷ đồng (khoảng 1,13 tỷ đô la Mỹ) như một biện pháp cứu trợ. Nhưng chính phủ lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để cứu trợ? Trong rất nhiều bình luận về chính sách công này, cho dù đó là về y tế, giáo dục, quốc phòng hay cải cách lương hưu, thì ý kiến ​​phản đối được nghe thấy thường xuyên nhất là nợ quá nhiều sẽ khiến thế hệ tương lai rơi vào tình trạng “nợ nần chồng chất, cha thiếu nợ thì con phải trả”, điều gì sẽ xảy ra nếu những nhận định này thật sự không chính xác?

Cuốn sách “The Deficit Myth” (Lý thuyết tiền tệ hiện đại) mà tôi sẽ chia sẻ hôm nay nhằm vạch trần những thâm hụt ngân sách, thực ra đó là một quan niệm sai lầm vì trên thực tế đất nước không có đủ nguồn ngân sách. Tác giả của cuốn sách này là nhà kinh tế học người Mỹ Stephanie Kelton đồng thời cũng là nhà kinh tế trưởng của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ. Trong cuốn sách này, bà muốn phá bỏ bốn lầm tưởng rằng thâm hụt ngân sách quốc gia là do sơ suất tài chính và giới thiệu một bộ lý thuyết mới “Lý thuyết tiền tệ hiện đại” (Modern Monetary Theory) được gọi tắt là MMT. Gần đây, do tình hình dịch bệnh, lý thuyết này bất ngờ được chính phủ các nước áp dụng và ngay lập tức nó trở thành lý thuyết kinh tế phổ biến nhất hiện nay, hãy để tôi giới thiệu cho các bạn biết thế nào là “Lý thuyết tiền tệ hiện đại”.

I. Những lầm tưởng về kinh tế - Đất nước không có ngân sách

Lầm tưởng kinh tế đầu tiên mà lý thuyết tiền tệ muốn phá bỏ đó chính là tư tưởng phải có tiền trước rồi mới nghĩ đến việc tiêu tiền, chính vì điều đó mà chính phủ sẽ tiến hành thu thuế từ người dân trước, hoặc vay tiền để làm ngân sách. Nhưng trên thực tế, về cơ bản Chính phủ không cần đến tiền của người dân, Chính phủ sẽ chi tiền ra trước rồi sau đó mới thu thuế, chúng ta đang đảo ngược lại với trình tự sẵn có của nó, một thực tế là người dân cần tiền của Chính phủ.

Những đồng tiền mà chúng ta có được từ đâu mà có? Với người bình thường thì đó là tiền lương mà ông chủ trả cho bạn, vậy thì tiền của ông chủ từ đâu mà có? Là kiếm được từ việc sản xuất hàng hóa và mang bán cho người tiêu dùng, vậy thì số tiền mà người tiêu dùng đó có được lại đến từ đâu? Là ông chủ trả lương cho họ, nhưng nếu như vậy thì nó lại trở thành một vòng tuần hoàn. Vậy thì chúng ta hãy cùng quay lại vấn đề để tìm hiểu rõ hơn nhé. Ban đầu, tiền của ông chủ đến từ các nhà tư bản, nhà đầu tư sau đó những người này sẽ vay một khoản tiền tại ngân hàng để bắt đầu kinh doanh cùng ông chủ, vấn đề đặt ra là nguồn tiền của ngân hàng đến từ đâu? Nó chính là các khoản gửi tiết kiệm của người dân, vậy thì người dân lấy số tiền đó từ đâu? Đó chẳng phải là tiền lương mà ông chủ trả cho họ sao, nhưng ngay từ khi bắt đầu tiền của ông chủ đến từ ngân hàng? Kết quả lại trở thành một vòng tuần hoàn.

Vậy nên câu hỏi thực sự là: Đồng tiền đầu tiên trong xã hội ra đời như thế nào? Nếu bạn xem qua tất cả các sách kinh tế, những cuốn sách này sẽ cho bạn biết rằng tiền tệ sớm nhất có nguồn gốc từ những người trong xã hội nguyên thủy. Họ cảm thấy rằng việc trao đổi hàng hóa quá rắc rối, vì vậy họ đã phát minh ra một loại tiền tệ có giá trị cao hơn và dễ mang theo hơn. Nhưng các nhà khảo cổ học và các nhà nhân chủng học đã nghiên cứu phát hiện ra rằng trái đất chưa bao giờ tồn tại xã hội trao đổi hàng hóa, xã hội này thực tế là do các nhà kinh tế tưởng tượng ra mà thôi. Nhà nhân chủng học David Graeber chỉ ra rằng nguồn gốc của tiền tệ thực chất là sự độc quyền của nhà nước, khi nhà nước mới xuất hiện, kẻ thống trị độc quyền phát hành tiền tệ, sau đó cho phép tiền đã phát hành được lưu thông trong xã hội. Bởi vì bản thân nhà nước này là tổ chức phát hành tiền tệ, vì vậy họ có thể in bao nhiêu tiền tùy thích. 

Nhưng nếu chính phủ có thể thoải mái tạo ra tiền tệ thì tại sao vẫn còn đánh thuế của người dân? Đó là bởi vì kẻ thống trị phát hiện ra rằng tiền do chính đất nước tạo ra vốn không có giá trị gì, mà chỉ là một tờ giấy vụn. Vậy làm thế nào để biến tờ giấy vụn không có giá trị ấy trở thành đồng tiền có giá trị? Nó rất đơn giản, chỉ cần nhà nước yêu cầu người dân đóng thuế hàng năm, và sau đó ra các điều luật quy định rằng thuế chỉ có thể được nộp bằng đồng tiền của đất nước họ, từ đó người dân sẽ có nhu cầu về đồng tiền đó. Nếu mọi người muốn nộp thuế, họ phải làm việc và kiếm tiền, và năng lực sản xuất của đất nước cũng sẽ tăng lên đáng kể. Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, công dân cũng sẽ có nghĩa vụ đóng thuế và sử dụng đồng tiền của đất nước họ khi tiến hành các giao dịch mua bán.

Từ đó đồng tiền được lưu thông và trở nên phổ biến trên thị trường, và một quốc gia như vậy sẽ tạo nên một thể chế kinh tế thống nhất, đây được gọi là “Định luật tiền tệ quốc gia”: cho rằng nguồn gốc của tiền tệ bắt nguồn từ việc nhà nước độc quyền phát hành tiền tệ để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Cũng giống như ngày còn nhỏ chúng ta thường chơi trò monopoly ( độc quyền), ngân hàng phải phát tiền cho mọi người trước thì trò chơi mới có thể bắt đầu. Chính vì vậy lầm tưởng đầu tiên cần phải phá bỏ đó chính là đừng dùng ngân sách tư nhân để giải thích cho ngân sách nhà nước, bởi vì thông thường người sử dụng tiền tệ là người dân và họ phải có tiền trước rồi mới tiêu, còn chính phủ là người phát hành tiền tệ, họ có thể tự tạo ra tiền không giới hạn và họ không cần phải thu thuế hay vay tiền từ người dân.

Ví dụ, sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngân sách, Bộ Tài chính sẽ chỉ thị cho Fed (Cục Dự trữ Liên bang) của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nhập số vào tài khoản ngân hàng của Kho bạc, sau đó tài khoản ngân hàng sẽ có tiền, và trong cả quá trình đều không sử dụng tiền đóng thuế của người dân. Vì vậy, khi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 nổ ra, người Mỹ đã rất tức giận và cho rằng chính phủ đã sử dụng số tiền mà họ đã đóng thuế để bảo lãnh cho các ngân hàng. Lúc bấy giờ, Ben Bernanke Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã lên tiếng giải thích chính phủ không sử dụng số tiền thuế của người dân đã đóng, cho nên đất nước sẽ không gặp vấn đề không đủ ngân sách để cứu trợ nền kinh tế. Nhưng trên thực tế lý thuyết này chỉ được sử dụng ở các quốc gia có chủ quyền về tiền tệ như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Nếu họ không phải là những quốc gia tự phát hành tiền tệ của riêng mình, thì họ sẽ giống như các khu vực đồng tiền chung châu Âu, Tunisia và Venezuela và lý thuyết tiền tệ hiện đại đó sẽ không thể áp dụng. Có thể sẽ có ai đó thắc mắc rằng: “Nếu chính phủ hoàn toàn không sử dụng tiền thuế của dân thì tại sao phải thu thuế? Chính phủ cứ in tiền ra là được rồi, một quốc gia như vậy tiền sẽ chẳng bao giờ tiêu hết và có thể giải quyết được mọi vấn đề của quốc gia hay sao?”

Từ quan điểm của nền kinh tế tổng thể của đất nước, các khoản chi tiêu và thâm hụt của chính phủ sẽ đổ vào nền kinh tế trong nước. Do đó, thâm hụt của chính phủ càng lớn thì thặng dư tư nhân càng lớn. Chính phủ dường như đang mắc nợ, còn xã hội thực sự trở nên giàu có hơn. Nhưng nếu chính phủ in tiền một cách điên cuồng và có quá nhiều tiền lưu thông trên thị trường, thì đồng tiền sẽ mất giá và gây ra lạm phát. Hoặc là tiêu dùng quá nhiều, khiến cho vật giá leo thang dẫn đến lạm phát, vì vậy chính phủ không thể in tiền vô thời hạn mà phải đối mặt với hạn chế của “lạm phát.” Đây chính là lí do tại sao phải thu thuế, bởi vì để hạn chế đồng tiền lưu thông trên xã hội, tránh lạm phát chứ không phải vì kho bạc nhà nước không có tiền mà bắt người dân phải đóng thuế.

II. Những lầm tưởng kinh tế- Lạm phát và thất nghiệp

Trước những năm 1970, cộng đồng kinh tế học chủ yếu áp dụng lý thuyết của nhà kinh tế học Keynesianism. Keynesianism tin rằng chính phủ có thể tăng thâm hụt và in thêm tiền, để quốc gia và doanh nghiệp có tiền thuê lao động. Mặc dù điều này sẽ dẫn đến lạm phát, nhưng nó có thể giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống thấp hơn. Tuy nhiên, vào những năm 1970, nhà kinh tế học Milton Friedman đã đề xuất “chủ nghĩa tiền tệ”, ông tin rằng thủ phạm của lạm phát là việc phát hành quá nhiều tiền tệ. Chính phủ cho rằng việc làm này sẽ giải quyết vấn nạn thất nghiệp, nhưng thực tế cho thấy việc lạm phát tăng lên thì tiền lương của người lao động sẽ bị hạ thấp, các công ty sa thải nhân viên, vì vậy cách tốt nhất là chính phủ không nên can thiệp và để chủ nghĩa tư bản tự động loại bỏ những người không đáp ứng nhu cầu thị trường, đây được gọi là “tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên”. Những người thất nghiệp là những người không thể theo kịp tiến độ của xã hội. Hiện nay, các ngân hàng trung ương trên thế giới sẽ sử dụng lãi suất để kiểm soát lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp, nếu bối cảnh của nền kinh tế trở nên xấu và tỷ lệ thất nghiệp cao thì ngân hàng trung ương sẽ hạ lãi suất để mọi người sẵn sàng vay tiền mua ô tô, mua nhà, doanh nghiệp có thể vay vốn để tạo cơ hội việc làm. Ví dụ, sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã giảm lãi suất về 0, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ từ 10% năm 2009 xuống còn 5% vào năm 2015. Sau khi kinh tế phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp giảm thì ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất trở lại và tránh sự xuất hiện của lạm phát, nhưng điều này có nghĩa là để kiểm soát lạm phát, chủ nghĩa tư bản nhất định phải làm cho một số người thất nghiệp.

Ví dụ, có 12 triệu người thất nghiệp ở Hoa Kỳ, những người này rõ ràng có thể làm việc và phát huy năng suất của họ, nhưng họ phải chấp nhận thất nghiệp không tự nguyện, thể chế kinh tế như vậy liệu có mang lại hiệu quả? Lý thuyết tiền tệ hiện đại cho rằng bất kỳ loại tiền tệ nào do chính phủ phát hành đều có khả năng giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nước xuống còn 0, bởi vì ngay từ đầu nó chính là mục đích của việc phát hành tiền tệ của chính phủ. Bạn còn nhớ nguồn gốc của tiền tệ mà chúng ta vừa nói đến chứ? Tại sao chính phủ muốn tạo ra tiền tệ, và luật pháp quy định loại tiền được sử dụng để nộp thuế? Bởi vì có nghĩa vụ phải đóng thuế nên mọi người mới sẵn sàng làm việc, như vậy đất nước mới có thể có các dịch vụ công cộng, xây dựng công cộng, bệnh viện, quân đội, trường học, v…v....

Vì vậy nếu có công dân muốn kiếm tiền để nộp thuế mà họ lại chưa thể làm được điều đó thì đương nhiên chính phủ sẽ không để việc này xảy ra, nếu không sẽ vi phạm mục đích ban đầu khi họ tạo ra tiền, nhưng hiện nay chính phủ các nước chỉ cung cấp cho lao động bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp. Mặc dù đại dịch đã gây ra tỉ lệ thất nghiệp lớn, nhưng các quốc gia trên thế giới cũng chỉ có một khoản trợ cấp hỗ trợ cho người lao động. đối với suy thoái kinh tế, chính phủ có thể cung cấp bảo vệ việc làm. Tác giả chỉ ra rằng, vì chính phủ là nhà phát hành tiền tệ, không giống như các công ty không có tiền để thuê nhân viên do chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, chính phủ có thể đề xuất bảo lãnh việc làm như một cơ chế ổn định tự động. Ví dụ, các cơ quan chính phủ có thể hợp tác với cộng đồng địa phương, chính phủ chịu trách nhiệm thanh toán tiền và những người trong cộng đồng có trách nhiệm điều chỉnh nội dung công việc, bởi vì mỗi người ở mỗi cộng đồng khác nhau sẽ biết rõ nhất mình cần gì và sau đó mỗi cộng đồng sẽ liệt kê nhân lực cần thiết, chính phủ mỗi quận và thành phố có thể đăng tải các thông tin cơ hội việc làm lên trên các trang web để những người thất nghiệp tìm kiếm các cơ hội việc làm phù hợp với họ, và hơn thế những công việc này chỉ có phía chính phủ mới có thể làm được bởi vì chính phủ là người phát hành tiền tệ và sẽ không bao giờ rơi vào trạng thái không có tiền.

Ví dụ, vào những năm 1930, chính sách mới của Tổng thống Roosevelt đó  là sắp xếp Cơ quan quản lý công trình công cộng trực tiếp tạo ra hàng triệu cơ hội việc làm, cho phép mọi người xây dựng trường học, bệnh viện, thư viện, bưu điện, cầu đường, tạo ra khoảng 2 triệu cơ hội việc làm cho các học sinh trung học, sinh viên đại học, hàng ngàn cơ hội việc làm cho các nhà văn, nghệ sĩ, chính sách đó đã giúp người Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái. Hay vào năm 2001, khi lạm phát xảy ra ở Argentina, tỷ lệ thất nghiệp cao tới 20%, Chính phủ Argentina đã quyết định áp dụng mô hình lý thuyết tiền tệ hiện đại và thực hiện “Kế hoạch chủ hộ nam (nữ) thất nghiệp” (Plan Jefes y Jefas de Hogar Desocupados), trực tiếp tạo ra cơ hội việc làm cho 2 triệu người (chiếm 13% dân số lao động). Sau 6 tháng thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo trong nước giảm xuống còn 25%. Tác giả gọi phương pháp này là “kinh tế định hướng chăm sóc”, biến những người thất nghiệp trở thành lực lượng hữu ích cho xã hội, trở thành những công dân cống hiến cho xã hội và đồng thời chính phủ cũng có thể chăm sóc công dân.

Vì bản chất của chủ nghĩa tư bản là làm cho một số người thất nghiệp, lý thuyết tiền tệ hiện đại cho phép chính phủ xây dựng mạng lưới an toàn xã hội. Khi chủ nghĩa tư bản chịu ảnh hưởng xấu từ nền kinh tế và các công ty sa thải nhân viên, mọi người có thể làm việc trong khu vực công và phục vụ cộng đồng địa phương. Nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản được phục hồi, người dân có thể quay trở lại làm việc trong doanh nghiệp, làm như vậy sẽ không ai rơi vào trạng thái thất nghiệp trong thời gian dài, điều này cũng tốt cho các doanh nghiệp tư bản, vì người lao động sẽ không bị tách ra khỏi ngành và vẫn có thể duy trì trạng thái làm việc với những kinh nghiệm sẵn có, nghe đến đây chắc hẳn sẽ có nhiều người đặt câu hỏi rằng ngay cả khi chính phủ có thể in tiền để cứu trợ nền kinh tế và những thâm hụt nhiều như vậy thì liệu chính phủ có còn nợ hay không? Một ví dụ điển hình nhất chính là gần đây chỉ số VNIndex của chỉ số chứng khoán Việt Nam bất ngờ rơi vào tình trạng bong bóng thị trường chứng khoán mà không hề có dấu hiệu báo trước, nó đã từng xóa sạch mọi thành quả của thị trường chứng khoán vào năm 2020 với mức giảm hơn 6%, thậm chí gần 25% cổ phiếu của Việt Nam đã đạt mức giới hạn. Thị trường chứng khoán Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn, sụt giảm mạnh nhất trong hơn 20 năm qua, và khi tình hình nợ nần của Việt Nam ngày càng xấu đi và dòng vốn đô la Mỹ nhanh chóng rời khỏi Việt Nam, thị trường chứng khoán có khả năng trở thành Brazil thứ hai.

Tương tự như vậy, ở Mỹ, bất kể đảng phái nào, chỉ cần đề cập đến vấn đề nợ công thì người ta coi đó là vấn đề “nợ nần chồng chất, cha thiếu nợ thì con phải trả”, dù là chính trị gia hay người của giới truyền thông báo chí thì đều cho rằng cần tránh để xảy ra vấn đề nợ công này. Đây là điều thứ ba mà lý thuyết tiền tệ hiện đại muốn phá bỏ. 

III. Những lầm tưởng về kinh tế- Khủng hoảng nợ công

Trên thực tế, nợ công sẽ không tạo nên bất kì gánh nặng tài chính nào. Bởi vì các quốc gia có chủ quyền tiền tệ có thể tự in tiền giấy của mình, vì vậy trái phiếu do chính phủ phát hành luôn được đảm bảo. Toàn bộ quy trình có thể được đơn giản hóa như sau: Chính phủ chi 100 nhân dân tệ và đầu tư 100 nhân dân tệ vào các hoạt động kinh tế. Giả sử chính phủ thu thuế là 90 nhân dân tệ, vậy có 10 nhân dân tệ sẽ không lấy lại được, tương đương với việc 10 nhân dân tệ đó sẽ được đưa vào trong nền kinh tế và thâm hụt ngân sách nhà nước tăng thêm 10 nhân dân tệ, và thâm hụt ngân sách nhà nước là thặng dư xã hội. 

Tiếp theo, chính phủ có thể phát hành trái phiếu để cho phép người dân mua 10 nhân dân tệ thâm hụt đó. Điểm mấu chốt là tuy chính phủ có thể tự in tiền không giới hạn, vậy tại sao họ lại cần người khác mua 10 nhân dân tệ thâm hụt? Bởi vì chính phủ có thể yêu cầu ngân hàng trung ương mua trái phiếu chính phủ để điều tiết lãi suất, khi chính phủ muốn hạ lãi suất thì bán trái phiếu chính phủ cho ngân hàng trung ương. 

Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã đưa ra chính sách nới lỏng định lượng, in tiền một cách điên cuồng và đầu tư 3.000 tỷ đô la Mỹ vào việc mua vào trái phiếu chính phủ, điều chỉnh mức lãi suất xuống thấp và kích thích nền kinh tế. Hoặc Nhật Bản đã thực hiện chính sách “Kiểm soát đường cong lợi suất” từ năm 2016, cho phép Ngân hàng Trung ương Nhật Bản mua trái phiếu chính phủ để duy trì lãi suất ở mức khoảng 0%. Vì vậy, một nửa số trái phiếu chính phủ của Nhật Bản thực sự thuộc sở hữu của ngân hàng trung ương. Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả trái phiếu chính phủ được ngân hàng trung ương mua lại? Nhà kinh tế học Eric Lonergan tin rằng: “Sẽ không có quá nhiều sự thay đổi, chỉ là ngân hàng trung ương gửi tiền mặt vào tài khoản nhà nước, và sau đó nhà nước biến các trái phiếu trong tay các nhà đầu tư thành tiền mặt.” Vì vậy, các quốc gia có chủ quyền tiền tệ sẽ phải trả hết các khoản nợ công. Trên thực tế, tất cả các khoản nợ công có thể được hoàn thành trong một ngày, và sẽ không rơi vào khủng hoảng nợ, cho dù nợ công của Nhật Bản chiếm 266% GDP và của Hoa Kỳ cao tới 127%, các quốc gia này vẫn chưa xảy ra bất kì cuộc khủng hoảng nợ nào, thậm chí Buffett còn nói rằng ông không có bất cứ lo lắng gì về vấn đề này ngay cả khi rơi vào khủng hoảng nợ. 

Chỉ những nước không có chủ quyền về tiền tệ, ví dụ như Hy Lạp đã từ bỏ chủ quyền tiền tệ vào năm 2001 và chuyển sang sử dụng đồng euro, do đó, trái phiếu của Hy Lạp đều được tính bằng đồng euro. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chính phủ Hy Lạp đã phải tăng thâm hụt ngân sách nhà nước để cứu nền kinh tế, nhưng Chính phủ Hy Lạp không thể phát hành euro mà chỉ có thể phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt, tương đương với việc phải tìm kiếm các nhà đầu tư sẵn sàng dùng đồng euro của họ để đổi lấy trái phiếu của Chính phủ Hy Lạp. 

Nếu bạn là một nhà đầu tư, bạn biết chính phủ này không thể tự in tiền, vì vậy họ có thể không thể trả tiền cho bạn được. Bạn có còn dám mua trái phiếu của họ không? Bởi vì phải chịu rủi ro lớn hơn nên các nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức lãi suất cao hơn, do đó, lãi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp tăng vọt từ 4,5% năm 2008 lên 30% năm 2012. Kết quả là chính phủ Hy Lạp phá sản và Khủng hoảng nợ công châu Âu nổ ra. Tác giả thậm chí còn chỉ ra rằng 6 cuộc đại suy thoái kinh tế trong lịch sử Hoa Kỳ đều xảy ra sau khi chính phủ thử trả hết nợ công, vì khi chính phủ không bị thâm hụt ngân sách thì nó sẽ trở thành thâm hụt tư nhân, và người dân không thể gánh nợ quá lâu, và cuối cùng rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế.

Ngược lại, khi ngân sách nhà nước thâm hụt, các doanh nghiệp tư nhân sẽ xuất hiện hiện tượng tăng trưởng kinh tế, ví dụ như trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009, chính phủ Mỹ đã trực tiếp bỏ ra 1,4 nghìn tỷ để cứu trợ nền kinh tế. Lúc bấy giờ, người đoạt giải Nobel Paul Krugman cho biết: “Thâm hụt ngân sách nhà nước là kết quả của việc ổn định nền kinh tế, và đây chính là lý do duy nhất giúp Hoa Kỳ thoát khỏi hai cuộc đại suy thoái kinh tế.” Tuyên bố này trùng hợp với mệnh đề của lý thuyết tiền tệ hiện đại, rằng thâm hụt ngân sách nhà nước chính là thặng dư xã hội.

IV. Nhà nước không đủ khả năng chi trả phúc lợi xã hội

Tùy theo từng trường hợp khác nhau, mức trợ cấp của chính phủ Việt Nam cho người cao tuổi dao động từ 270.000 đồng đến 810.000 đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, vật giá tại Việt Nam không ngừng leo thang. Với các trợ cấp có điều kiện và các khoản trợ cấp nhỏ của chính phủ, cuộc sống của rất nhiều người cao tuổi không được đảm bảo. Hiện chỉ có 30% dân số già (người cao tuổi) ở Việt Nam có lương hưu ổn định và trợ cấp xã hội, bảo hiểm, v...v... 70% số người cao tuổi còn lại vẫn phải tự lao động kiếm sống. Các chính sách này dựa trên thực tế là ngân khố quốc gia không còn tiền, thêm vào đó là hiện trạng già hóa dân số, trong tương lai, việc đóng thuế của dân số trẻ sẽ không thể nuôi được nhiều người già đã nghỉ hưu như vậy. Do đó, xu hướng thảo luận về phúc lợi xã hội đã trở thành cuộc chiến giữa các thế hệ, không phải người già hy sinh lãnh lương hưu ít đi một chút, thì sẽ là người trẻ đóng thuế nhiều hơn một chút.

Tại Hoa Kỳ, ngay từ năm 1935, Little Roosevelt đã khởi xướng “Bảo hiểm An sinh Xã hội” dùng để trợ cấp cho những người già đã nghỉ hưu, khuyết tật về thể chất và tinh thần cùng với các hộ gia đình có thu nhập thấp. Nguồn trợ cấp đó đến từ thuế thu nhập cá nhân của người dân. Bởi vì Little Roosevelt mong muốn công dân Mỹ cảm nhận được việc được hưởng các phúc lợi là hợp lý, cá nhân họ có cống hiến cho đất nước đương nhiên họ sẽ nhận được các chính sách phúc lợi như vậy.

Nhưng vào những năm 1980, chính phủ Hoa Kỳ đã lường trước được tình trạng thiếu hụt tài chính nên trợ cấp phúc lợi bắt đầu giảm và độ tuổi nghỉ hưu được điều chỉnh từ 65 lên 67 tuổi. Do đó, cho dù là Việt Nam hay Hoa Kỳ thì đều coi tiền của người đóng thuế là quỹ phúc lợi xã hội, nhưng lý thuyết tiền tệ hiện đại chỉ ra rằng đây là một nhận định vô căn cứ, Chính phủ thu thuế không phải vì kho bạc nhà nước cần tiền, và quốc gia phát hành tiền tệ không cần thu thuế để trả cho các khoản ngân sách phúc lợi. 

Trên thực tế, miễn là không gây ra lạm phát, chính phủ có thể in tiền để hỗ trợ cho các khoản chi tiêu của nhà nước. Thực chất, nhà nước có thể chi trả cho các khoản chi phúc lợi xã hội, cho nên khi Hoa Kỳ tranh luận về vấn đề cải cách lương hưu, Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan đã đưa đề xuất “tư nhân hóa” bảo hiểm an sinh xã hội, đưa bảo hiểm anh sinh xã hội của nhà nước thành tài khoản hưu trí cá nhân, tại thời điểm đó, Alan Greenspan Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã trực tiếp phản bác đề xuất đó của ông và nói sự thật về vận hành hệ thống tiền tệ. 

Vấn đề của chính sách phúc lợi xã hội không phải là ngân sách quốc gia không có tiền mà vấn đề thực sự là liệu tiền có thể mua được năng lực sản xuất thực tế sau khi chính phủ tạo ra tiền để chi trả cho phúc lợi hay không. Bởi vì dân số các nước phát triển đang già đi, dân số lao động ngày càng giảm, ngày càng có nhiều người về hưu, do đó, nếu chính phủ in quá nhiều tiền cho những người đã nghỉ hưu dùng, hiện trạng không đáp ứng đủ nhu cầu về dịch vụ và hàng hóa cho người dân lao động và từ đó dẫn đến lạm phát. 

Vì vậy, vấn đề thực sự mà đất nước phải đối mặt là liệu lực lượng lao động trong xã hội có thể đáp ứng được nhu cầu của những người đã nghỉ hưu hay không. Đất nước phải đào tạo thêm nhiều bác sĩ, y tá, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng không có rào cản, v...v... Nếu khủng hoảng phúc lợi chỉ đơn giản là một giả thiết. 

Vậy tại sao các chính trị gia cùng với giới thông tin đại chúng vẫn đang tranh cãi với nhau? Bởi vì “khủng hoảng phúc lợi” thực chất là một mánh khóe được các chính trị gia ở Anh và Hoa Kỳ sử dụng để chuyển đổi trọng tâm vào những năm 1980. Trước những năm 1970, tên ban đầu của hệ thống phúc lợi Hoa Kỳ là “Phúc lợi tương ứng được hưởng” (earned entitlements). Nhưng vào những năm 1970, chủ nghĩa bảo thủ người Mỹ Robert Nisbet và nhà triết học Robert Nozick đã đổi “Phúc lợi tương ứng được hưởng” thành “đặc quyền” (entitlement). Tổng thống Reagan kể từ sau khi ông nhậm chức cũng đã sử dụng cách nói này, cụ thể là chuyển đổi “An sinh xã hội” thành “ đặc quyền”  (entitlement) , những người được nhận phúc lợi xã hội chính là những người được hưởng các đặc quyền.

Vào thời điểm đó, Reagan thậm chí còn không ngừng quảng bá một thuật ngữ mới gọi là “nữ hoàng phúc lợi”, những người nhận phúc lợi đó có đặc điểm là những người lười biếng, không làm việc chăm chỉ, đơn giản họ được coi là những con sâu trong xã hội. Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) thậm chí còn coi “cảm giác nhận được đặc ân” (a sense of entitlement) là tiêu chí để chẩn đoán “rối loạn nhân cách ái kỷ”. Cũng trong khoảng thời gian này, sau khi Thủ tướng Anh Chacher nhậm chức, ông đã quảng bá mạnh mẽ những lầm tưởng tương tự về thâm hụt, ông nói với người dân: “muốn chính phủ đưa ra nhiều phúc lợi công cộng thì bạn  sẽ phải đóng thuế nhiều hơn.”

Vì vậy, kể từ những năm 1980, những lầm tưởng về thâm hụt do Tổng thống Reagan và Thủ tướng Chacher của Vương quốc Anh cổ xúy đã thịnh hành trên toàn thế giới. Ngay cả ngày nay, Thủ tướng Anh Theresa May vẫn sử dụng những lí luận này, chỉ cần khi gặp phải các vấn đề về phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, khoản chi công thì những nhân vật chính trị này sẽ nói với công dân của họ rằng ngân sách nhà nước cạn kiệt, nhưng khi họ gặp phải các vấn đề về mua vũ khí, viện trợ chiến tranh thì ngân sách nhà nước của các nước trên thế giới bỗng nhiên lại có tiền?

Năm 2017, Quốc hội Mỹ đề xuất dự luật chính sách quốc phòng, yêu cầu Nhà Trắng chi viện 700 tỷ USD để mua vũ khí, kết quả là Quốc hội đã ngay lập tức thông qua dự luật này, vậy ngân khố nhà nước có thực sự không còn tiền? Hay các chính trị gia đang cố tình sử dụng những lầm tưởng về thâm hụt kia để chuyển hướng trọng tâm, cố tình chặn các khoản chi phúc lợi xã hội và bảo hiểm y tế?

Kết luận

Hôm nay, tôi đã giới thiệu lý thuyết tiền tệ hiện đại với các bạn, hy vọng sẽ giúp bạn thoát khỏi một số lầm tưởng về kinh tế. Hiểu rõ những lầm tưởng về thâm hụt là không có cơ sở, đó là những lập luận mà các chính trị gia đã thổi phồng từ những năm 1980. Vấn đề thực sự không nằm ở việc tiền có đủ hay không, mà là việc in nhiều tiền như vậy có dẫn đến lạm phát hay không, in tiền là việc rất dễ nhưng khống chế lạm phát như thế nào mới là vấn đề cần nghĩ tới. Sau khi đại dịch bùng phát vào năm ngoái, lý thuyết tiền tệ hiện đại mới có cơ hội đưa vào thử nghiệm. Tổng thống Mỹ Biden đề xuất ngân sách chi 6 nghìn tỷ USD vào tháng 5 năm nay, yêu cầu chính phủ trực tiếp cứu trợ nền kinh tế và đầu tư mạnh vào xã hội Mỹ. Lý thuyết này đã mở ra hướng đi mới cho những cuộc tranh luận công khai, Quốc hội không còn phải lãng phí thời gian tranh luận về các vấn đề ngân sách nữa mà phải tìm ra lời giải cho câu hỏi nếu có đủ quỹ chúng ta có thể làm gì để xã hội trở nên tốt đẹp hơn ? Chính phủ có thể trợ cấp cho chính quyền địa phương để đảm bảo cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thuê nhân lực nâng cấp cơ sở hạ tầng để đất nước không xảy ra tai nạn giao thông, đồng thời cung cấp học bổng để sinh viên đại học không phải mang những nỗi lo về gánh nặng tài chính trên vai khi ra ngoài xã hội. Xây dựng kế hoạch nhà ở giá rẻ cho phép người dân an tâm sống với chi phí nhà ở hợp lý. Nó có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng tái tạo, thay vì đe dọa người dân bằng việc tăng hóa đơn tiền điện. Tôi hy vọng bài viết này có thể truyền cảm hứng cho bạn. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm các kiến thức về kinh tế học, bạn có thể xem các bài viết khác của tác giả: Chủ nghĩa tư bản là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế như thế nào? Bong bóng Bitcoin là gì? Máy móc làm tổn thương người lao động và nguy cơ mất việc làm? Cuốn sách cần đọc để hiểu về xã hội hiện đại.

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend