40% công việc trên thế giới là nhàm chán vô nghĩa! Tin tức nội bộ từ tất cả các tầng ngành nghề được tiết lộ! Ý nghĩa và giá trị của công việc là gì? Chủ nghĩa tư bản tạo ra những việc làm vô nghĩa?|InsHat

40% công việc trên thế giới là nhàm chán vô nghĩa! Tin tức nội bộ từ tất cả các tầng ngành nghề được tiết lộ! Ý nghĩa và giá trị của công việc là gì? Chủ nghĩa tư bản tạo ra những việc làm vô nghĩa?

3046 InsHat

Bạn có nghĩ rằng công việc của bạn có ý nghĩa không? Thống kê từ YouGov, một công ty phân tích dữ liệu và nghiên cứu thị trường dựa trên Internet quốc tế có trụ sở tại Anh, cho thấy gần 40% người dân tin rằng công việc của họ làm không có đóng góp gì cho thế giới. Tại sao chủ nghĩa tư bản, vốn được tuyên bố là hiệu quả nhất, lại tạo ra rất nhiều việc làm vô nghĩa như vậy? Cuốn sách “Bullshit Jobs: Đời ngắn lắm, đừng làm vô nghĩa” sẽ chia sẻ hôm nay giúp chúng ta khám phá hiện tượng nghịch lý này. Tác giả của cuốn sách này là nhà nhân chủng học David Graber, cũng là một trong những người khởi xướng phong trào Chiếm Phố Wall. Năm 2013, ông đã viết một bài báo “Về hiện tượng các công việc vô nghĩa”, bài viết đã trở thành một hiện tượng được lan truyền rộng rãi ngay lập tức, những lời thú nhận từ những người đang trải qua, hay những lời chia sẻ, xin ý kiến bình luận sôi nổi về vấn đề này. Vì vậy có thể nói cuốn sách này là những thông tin nội bộ độc quyền của mọi ngành nghề trong xã hội được tiết lộ, hãy để chúng tôi giới thiệu cho mọi người hiểu những công việc vô nghĩa là gì? Những công việc này đã gây ra tác hại gì cho nhân loại? Giá trị và bản chất của công việc là gì? 

5 loại công việc vô nghĩa 

Trước hết, hãy định nghĩa “Công việc vô nghĩa” là gì. Đó chính là hầu hết mọi người trong ngành này đều phủ nhận tầm quan trọng của công việc này và nghĩ rằng sẽ chẳng có ảnh hưởng gì nếu công việc đó biến mất, nhưng sau cùng, nó lại là những công việc được một người nào đó thuê để làm, vì vậy đó chính là lý do để loại công việc này tồn tại. Tác giả chia những công việc vô nghĩa thành năm loại:

1. Nhóm làm nền (flunky)

Công việc tồn tại chỉ để làm cho cấp trên của công ty có vị trí tốt. Ví dụ: nhân viên trực điện thoại tại quầy lễ tân, hầu hết thời gian làm việc của họ là nhàn rỗi thậm chí là không làm gì cả. Họ được thuê để làm bộ mặt của công ty, bởi vì như vậy khi người khác nhìn vào sẽ thấy công ty có cấu trúc tốt hoặc những người môi giới có thể xây dựng hình tượng để giả vờ rằng họ đang quá bận rộn để kiếm tiền nên không còn thời gian để nghe điện thoại, hay những người được thuê về làm nhân viên kinh doanh qua điện thoại để bán cổ phiếu, khiến khách hàng nghĩ rằng công ty này phải là một doanh nghiệp thành công, và nhóm tay sai này sẽ phàn nàn rằng về cơ bản “vị trí của tôi tại công ty này là hoàn toàn không cần thiết và không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc làm cho sếp tôi có vẻ ngoài hào nhoáng hơn và cảm thấy như là một người thành đạt.”

2. Nhóm vẽ chuyện (taskmaster)

Những cấp trên không cần thiết lại tạo quá nhiều công việc vô nghĩa cho cấp dưới. Ví dụ, các giám đốc quản lý của nhiều công ty phàn nàn rằng công việc của họ là giám sát những người không cần phải giám sát. Họ làm ra các chỉ tiêu thống kê để nhân viên của mình càng bận hơn, nhưng nếu không có những chỉ tiêu này thì bản thân những nhân viên của họ cũng có thể chăm chỉ làm việc, cũng giống như sự xuất hiện của “hiệu trưởng”, “người phụ trách chiến lược” tại các trường đại học, để tiến tới danh hiệu là các trường đại học hàng đầu, họ đã phát minh ra một loạt các phương pháp định lượng để đánh giá hiệu quả hoạt động. Do đó, các giáo sư đại học đã phải dành rất nhiều thời gian để viết tài liệu và tự đánh giá. Thay vào đó, ngày càng có ít thời gian để giảng dạy, nghiên cứu một cách nghiêm túc. Đây chính là bậc thầy chuyên sắp xếp các công việc vô nghĩa cho người khác, nói một cách đơn giản đó là cỗ máy sản xuất công việc vô nghĩa. 

3. Nhóm tay sai (goon)

Những người được thuê để thúc đẩy lợi ích của người sử dụng lao động và đánh bại các đối thủ cạnh tranh, nhưng những gì họ làm lại không giúp ích được gì cho xã hội. Điển hình nhất là những người tiếp thị qua điện thoại, những người này phàn nàn rằng công việc của họ không những không có ích cho thế giới mà còn gây rắc rối cho cuộc sống của những người khác. Cũng có những cố vấn pháp lý của công ty phàn nàn rằng họ chỉ đang tiếp tay cho những công ty lớn vô đạo đức đâm đơn kiện và trốn thuế. Hoặc những nhà quảng cáo sử dụng hiệu ứng đặc biệt sau sản xuất để làm sản phẩm tẩy rửa, làm trắng da trông có vẻ sạch sẽ đảm bảo hơn nhưng lại cảm thấy cắn rứt lương tâm, lôi kéo mọi người tiêu dùng, thúc đẩy văn hóa tiêu dùng không cần thiết.

4. Nhóm làm màu (box ticker)

Sự tồn tại của loại công việc này là để tổ chức có thể tuyên bố rằng họ đang làm một việc gì đó. Ví dụ, để xin được mức kinh phí nào đó, công ty sẽ tìm một đội ngũ có chuyên môn để tạo ra một loạt các PPT đẹp phục vụ cho công việc báo cáo tại cuộc họp, nhưng mọi người đều biết rằng đó là những điều vô nghĩa. Hoặc một tạp chí phụ trách thiết kế cho các công ty lớn, chuyên đăng các bài báo để thổi phồng về công ty họ và nội dung chính của công việc chín là để cấp trên đọc những bài viết đó.

5. Nhóm vá víu (duct taper)

Bản thân công ty cũng có một số lỗ hổng và thay vì cải thiện nó, công ty lại thuê người khác xử lý hậu quả. Điển hình nhất là nhân viên chăm sóc khách hàng, những người này không có quyền hành chính gì cả nên khi khách hàng gọi điện phàn nàn và họ cũng không thực sự giải quyết được vấn đề, vậy ý ​​định xây dựng vị trí nhân viên chăm sóc khách hàng là gì? Thực chất vị trí này là chiếc thùng trút giận của khách hàng mà thôi.

Nếu công việc của bạn không phải là một trong năm loại công việc vô nghĩa này, bạn cũng vui mừng quá sớm. Báo cáo việc làm của công ty Hoa Kỳ cho thấy từ năm 2015 đến năm 2016, thời gian làm việc chính của nhân viên văn phòng đã giảm từ 46% xuống 39%, thời gian dành cho email, hội họp và các công việc hành chính nhiều hơn thời gian làm việc thực tế, điều này có nghĩa là công việc của những nhân viên văn phòng bình thường đã bắt đầu “vô nghĩa hóa” (bullshitization). Nếu xu hướng này tiếp tục phát triển, trong vòng 10 năm tới sẽ không còn ai làm việc trong văn phòng nữa, thay vào đó mọi người sẽ đều tham gia các cuộc họp và trả lời email. Tác giả chỉ ra rằng những công việc vô nghĩa phần lớn là những công việc của giới cổ cồn trắng tức là những công việc có thu nhập cao nhưng công việc đó lại vô nghĩa, còn giới cổ cồn xanh thì ngược lại, công việc của họ đóng góp cho xã hội nhưng thu nhập lại không cao, điều này dẫn đến việc biến đó trở thành “bitch work”- nơi không thể tuyển dụng mọi người. Vì vậy, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một thế giới rất kỳ lạ, những người muốn lương cao phải làm những công việc vô nghĩa, và những người muốn đóng góp cho thế giới phải làm công việc "chó cái" lương thấp. Vậy có gì sai trong cơ chế làm việc này?

Ý nghĩa của công việc là gì?

Các nhà kinh tế học thường nói rằng việc theo đuổi các mục tiêu kinh tế là giảm thiểu chi phí và tối đa hóa lợi ích. Thực sự có một giả định mang tính cá nhân đằng sau quan điểm này, rằng mọi người đều có xu hướng chọn những hành động có thể thỏa mãn mong muốn của bản thân với ít tài nguyên và năng lượng nhất. Theo quan điểm nhân văn, nếu phúc lợi của chính phủ quá tốt, người nghèo sẽ không muốn làm việc, bởi vì bản chất con người chỉ là dày ăn mỏng làm, không muốn làm gì nhưng vẫn có tiền. Nhưng nếu đúng như vậy, bạn có thể giải thích tại sao những công việc vô nghĩa mang lại thu nhập cao hơn, họ làm ít việc hơn nhưng lại thấy không thoải mái? Điều này có nghĩa là ngoài phần thưởng bằng tiền, con người cũng mong muốn thấy được ý nghĩa của một công việc nào đó mà họ đang làm. Ví dụ, các nhà xã hội học đã phát hiện ra rằng nếu người lao động có thể thừa hưởng một tài sản thừa kế lớn và trở nên giàu có, thì 80% số người đó vẫn sẽ lựa chọn tiếp tục làm việc. Các nhà kinh tế học cũng phát hiện ra rằng các tù nhân được ăn miễn phí và không phải làm việc gì, nhưng nếu bạn không cho phép họ làm công việc dọn dẹp hàng ngày, họ sẽ cảm thấy đó là một hình phạt, vì vậy, ngay cả khi bạn không nghĩ đến những phần thù lao là tiền thì con người vẫn mong muốn được làm việc. 

Nhà tâm lý học người Đức Karl Groos đã phát hiện ra rằng khi trẻ sơ sinh thấy rằng hành động của mình có thể tác động đến thế giới, chúng sẽ rất hạnh phúc, bởi vì điều này sẽ khiến mọi người cảm thấy như chúng đang ở trong tay của chính mình. Mọi người cảm thấy rằng họ thực sự tồn tại khi người tạo ra một điều gì đó có ý nghĩa lại chính là mình vì vậy sự tồn tại của “cái tôi” không đến từ bộ não, mà nó bắt nguồn từ hành động.

Ngược lại, những người không thể có bất kỳ ảnh hưởng nào đến thế giới sẽ không tồn tại, đây là lý do tại sao trẻ em thích chơi game đến vậy, bởi vì chúng có thể có được niềm vui khi “làm chính mình” và phát triển “ý thức về bản thân” từ chính trò chơi đó. Các nhà tâm lý học thấy rằng nếu bạn tước đi quyền tự chủ của trẻ trong trò chơi, chúng sẽ tức giận, từ chối tham gia và cuối cùng cảm thấy vô nghĩa. Nếu bạn cảm thấy loại trải nghiệm chấn thương vô ích này xảy ra quá thường xuyên, nó thậm chí có thể gây ra các vấn đề về tấm lý sức khỏe trong tương lai.

Vì vậy, lý do Bullshit Jobs không đạt yêu cầu chính là vì nó phủ nhận ý nghĩa của công việc: mọi người cảm nhận được sự tồn tại của chính mình thông qua những hành động có ý nghĩa và tự chủ. Một nhà văn Nga vĩ đại, Fyodor Dostoevsky đã ghi lại trải nghiệm tương tự trong tác phẩm “The House of the Dead” (Ngôi nhà ma), ông kể rằng khi còn là một tù nhân ở Siberia, ông nhận thấy rằng sự tra tấn khủng khiếp nhất không phải là lao động khổ sai mà là lao động vô nghĩa, bởi vì lao động khổ sai có thể có được cảm giác hoàn thành công việc khi làm mọi việc, nhưng nếu đó là lao động vô nghĩa, giống như đào một đống đất từ ​​chỗ này đến chỗ kia, rồi lại đào lại, nó giống như hành hạ tinh thần đối với con người, đó là lý do tại sao những người làm công việc vô nghĩa sẽ than phiền: “Tôi cảm thấy mình hoàn toàn vô dụng”, “Dù tôi có biến mất, thế giới cũng không thay đổi”, bởi vì những công việc này không khiến người ta cảm thấy rằng chúng tồn tại mà ngược lại nó còn trở thành một loại bạo lực tinh thần này và gây tổn hại tâm lý con người.

Kẻ trộm tiền lương!

Ngoài ý nghĩa là sẽ mất việc, Bullshit Jobs còn vạch trần một vấn đề khác của chủ nghĩa tư bản, vốn dĩ chủ nghĩa tư bản dùng thời gian để tính toán hiệu quả công việc, nhưng Bullshit Jobs có thể chỉ mất một giờ để hoàn thành, nhưng ông chủ sẽ yêu cầu bạn phải tìm việc gì đó để làm trong 7 tiếng còn lại. Điều này tương đương với ngụ ý rằng người lao động không nên làm việc quá hiệu quả, nếu không tôi sẽ giao cho bạn nhiều việc hơn và sẽ không tăng lương cho bạn. Kết quả là, một “văn hóa công sở” ra đời, nhân viên giả vờ làm việc trong văn phòng, nhưng thực tế là họ đang lướt Facebook, bản thân các sếp cũng biết bạn đang lừa dối họ nhưng ai cũng nhắm mắt làm ngơ. Rõ ràng là có thể giải quyết công việc một cách nhanh chóng nhưng giờ nó lại trở thành không hiệu quả. Điều này thực ra là đang ngụ ý một kiểu quan điểm làm việc, cho rằng ông chủ trả tiền để mua thời gian của bạn, vì vậy nếu bạn lười biếng trong công việc, bạn là “kẻ trộm tiền lươn”, nhưng trong rất nhiều nền văn hóa lại không hề có khái niệm này, bởi vì thời gian là vô hình làm sao có thể mua được nó?

Ví dụ, nhà nhân chủng học Evans Pritchard đã nghiên cứu người Nuer ở Châu Phi và nhận thấy rằng họ không có từ vựng về thời gian, họ mô tả thời gian bằng cách nói: “Lộ trình giữa hai ngôi làng này giống như nấu một nồi cơm lâu ngày.” Cho nên, họ không dùng thời gian để đo lường hành động mà họ dùng hàng động để đo thời gian. Thời gian không phải là thước đo công việc vì bản thân công việc là thước đo. Vì vậy, khi công việc kết thúc, bạn có thể về nhà. Không giống như chủ nghĩa tư bản, bạn sẽ phải ở lại công ty khi chưa đến giờ tan làm, tác giả tin rằng chính vì sự nổi lên của những công việc vô nghĩa mà mọi người có quá nhiều thời gian rảnh rỗi trong giờ làm việc, vì vậy họ sẽ đăng tải các bài viết, meme (Meme là một quan niệm, hành vi, hoặc phong cách lan truyền từ người này sang người khác trong một nền văn hoá thường với mục đích chuyển tải một hiện tượng, chủ đề, hoặc ý nghĩa cụ thể do meme đại diện.) trên mạng xã hội. Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng của mạng xã hội là do tạo ra các meme khó hiểu. Thực tế thì ai cũng thấy chán nản khi đi làm và cần một cách để giải tỏa sự nhàm chán đó, nhưng họ lại phải ngồi trong văn phòng chờ đợi, vì vậy họ muốn sử dụng thời gian nhàn rỗi đó để tạo ra sức đề kháng sáng tạo và coi đó là thuốc giải cho những việc làm vô nghĩa.

Tại sao những công việc vô nghĩa lại xuấy hiện?

Năm 1930, nhà kinh tế học Keynes dự đoán rằng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đủ để người dân Anh và Mỹ chỉ phải làm việc 15 tiếng một tuần. Tuy nhiên, điều đó đến nay vẫn chưa xảy ra. Bởi vì chủ nghĩa tư bản đã tạo ra quá nhiều công việc vô nghĩa cho mọi người. Và rồi vấn đề đã xuất hiện: “Tại sao đã hứa là chủ nghĩa tư bản hiệu quả nhất, nhưng lại tạo ra một thế giới đầy những việc làm vô nghĩa?” Tác giả cho rằng điều này là do mọi người được yêu cầu làm những công việc vô nghĩa, và việc làm đó lại rất có lợi cho giai cấp thống trị, chẳng hạn như trong tác phẩm “Down and Out in Paris and London” mà George Orwell It đã đề cập đến mục đích của việc tiếp tục công việc vô nghĩa là khiến công chúng không có thời gian rảnh rỗi, bởi vì họ sẽ trở nên nguy hiểm nếu có thời gian rảnh rỗi. Tốt hơn là để họ bận rộn đến mức họ không có thời gian để suy nghĩ!

Ví dụ, khi Bullshit Jobs chưa xuất hiện vào những năm 1960, những người lao động có nhiều thời gian rảnh rỗi tụ tập với nhau để cùng ăn uống, nhảy múa hát hò và thảo luận về các vấn đề công cộng, kết quả là tạo ra văn hóa hippie (một thuật ngữ dùng để chỉ một văn hóa lối sống của thanh niên, phát sinh từ một phong trào tại Hoa Kỳ trong giữa những năm 1960 và sau đó lan rộng sang các nước khác trên thế giới) đối kháng với xã hội quy mô lớn. Do đó, giai cấp thống trị đã rút ra bài học là không nên để giai cấp công nhân có thời gian rảnh rỗi, tốt hơn hết là để họ bận rộn với công việc. Đây là lý do tại sao ở đồn điền ở Mỹ vào thế kỷ 19, chủ nô yêu cầu nô lệ da đen làm việc ngay cả khi trái mùa, vì họ biết rằng nếu nô lệ có thời gian rảnh rỗi, họ sẽ âm mưu bỏ trốn hoặc nổi loạn.

Ngoài yếu tố thời gian, hiệu suất làm việc cao do Bullshit Jobs mang lại cũng góp phần vào sự ổn định của chính quyền, ví dụ khi Obama nói về bảo hiểm y tế, ông thừa nhận rõ ràng rằng khu vực tư nhân sẽ mang lại sự cạnh tranh và chi phí nhân lực không cần thiết, nhưng cũng nói rằng nếu biến thành các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ khiến hàng triệu người thất nghiệp, vì vậy để duy trì tỷ lệ việc làm và GDP, chúng ta nên tiếp tục để người Mỹ làm những công việc vô nghĩa trong các công ty bảo hiểm y tế tư nhân, vì bảo hiểm y tế chiếm một phần sáu nền kinh tế của chúng ta. Obama từng nói: “Vì chăm sóc sức khỏe đại diện cho 1/6 nền kinh tế của chúng ta, tôi tin rằng việc xây dựng dựa trên những gì hiệu quả và sửa chữa những gì không hiệu quả sẽ có ý nghĩa hơn là cố gắng bắt đầu xây dựng lại một hệ thống hoàn toàn mới”.

Ở Liên Xô cũ, để hoàn thành mục tiêu có việc làm đầy đủ, mang lại cơ hội việc làm cho tất cả mọi người họ đã tạo ra rất nhiều lao động dôi dư, phải dùng đến 3 người phụ việc tại cửa hàng mới mua được một ổ bánh mì. Và chủ nghĩa tư bản cũng đang làm điều tương tự, chỉ khác nhau ở chỗ đó là xã hội chủ nghĩa Liên Xô đã tạo ra hàng trăm nghìn nhân viên cổ cồn xanh dư thừa, trong khi chủ nghĩa tư bản tạo ra hàng triệu công nhân lao động cổ cồn trắng. Cuối cùng, có một yếu tố quan trọng khác góp phần vào sự trỗi dậy của công việc vô nghĩa đó là vào những năm 1950 và 1980, ở các nước công nghiệp phương Tây đều hiểu ngầm rằng nếu năng suất tăng sẽ giúp người lao động tăng thu nhập. Đây được gọi là “món hời của Keynes”, vì vậy trong suốt 30 năm này, năng suất đã tăng lên cùng với mức lương trung bình.

Tuy nhiên, sau những năm 1980, lợi nhuận do tăng năng suất lao động không được dùng để giúp người lao động tăng lương, vậy số tiền đó mang đi đâu? Câu trả lời là số tiền đó dùng để thuê các tầng lớp điều hành, các nhà quản lý cổ cồn trắng để phía tư bản có thể thiết lập hệ thống phân cấp trong tổ chức và chuyển giao quyền lực từ người lao động sang tầng lớp quản lý. Vì vậy, vào những năm 1980, các công việc quản lý khác nhau bắt đầu xuất hiện như tài chính, tư vấn, văn thư, kế toán, và những công việc vô nghĩa này thường cản trở công việc chính. 

Ví dụ, trong ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình ở Hollywood, Coca-Cola đã mua lại công ty điện ảnh Columbia vào năm 1982, và các nhà làm phim cấp cao trở thành “Giám sát quản lý điều hành”, “trợ lý điều hành phát triển”. Những người này đều xuất thân là những người nghiên cứu kinh doanh, là nhóm người không xem phim ảnh và cũng không hiểu gì về phim ảnh, hơn nữa họ sẽ không thông qua kịch bản của bạn ngay lập tức, thêm vào đó những “Giám đốc sáng tạo” này vì không có việc làm nên sẽ ngâm kịch bản đó trong thời gian dài, điều đó sẽ giúp “Giám đốc sáng tạo” đó nhận được nhiều lương hơn. Do đó, một kịch bản sẽ phải chờ đợi đến vài năm mới có thể giành được sự ưu ái, đó là lý do tại sao những bộ phim sau những năm 1980 lại tệ như vậy.

Trong giới học thuật cũng vậy, trước đây, các trường đại học hoạt động theo cách truyền thống thời trung cổ, nơi các giáo sư đại học được phép tự quản lý, bởi vì họ là những người làm công việc tuyến đầu. Tuy nhiên, sau những năm 1980, tỷ lệ quản trị viên và nhân viên hành chính của trường đại học đã tăng lên đáng kể, và nhiều cách đánh giá hiệu suất khác nhau được sử dụng để dày vò các giáo sư đại học. Kết quả là họ có quá ít thời gian hơn để làm việc, nhưng tại sao quá trình chuyển đổi này lại bắt đầu vào những năm 1980? Tác giả cho rằng vì vào thời điểm này, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang “chủ nghĩa tư bản tài chính”, và ngành tài chính là một điển hình để tạo ra những công việc vô nghĩa. Nhiều nhân viên ngân hàng tài chính đã thú nhận rằng công việc của họ chỉ đơn giản là lừa đảo.

Ví dụ, PPI (Bảo hiểm Bảo vệ Thanh toán), tranh chấp tài chính lớn nhất trong lịch sử Vương quốc Anh, rõ ràng là một khách hàng không đủ điều kiện yêu cầu bồi thường, và ngân hàng không nên bán bảo hiểm cho họ. Sau khi tranh chấp phát sinh, tranh chấp sẽ được giao cho một công ty kế toán và một công ty luật xử lý. Các công ty này thậm chí còn cố tình cho phép nhân viên phạm lỗi vì họ có thể gia hạn hợp đồng và kiếm thêm tiền, hoặc có công việc đánh giá xem các giao dịch của ngân hàng đầu tư có hợp pháp hay không, nhưng thực tế các giao dịch vi phạm pháp luật từ lâu đã bị chuyển sang thiên đường rửa tiền Cayman Islands. Vì vậy, kết quả đánh giá chắc chắn sẽ được chấp thuận 100%, nhưng nếu báo cáo như thế chắc chắn mọi người sẽ nghi ngờ, vì vậy ngân hàng đã thuê người làm những công việc vô nghĩa đó là làm dữ liệu gian lận, để báo cáo dường như đã vướng phải một số vấn đề nhất định.

Một ví dụ khác còn phóng đại hơn là một nhà quản lý rủi ro của một ngân hàng đa quốc gia. Anh ta nhận thấy rằng 80% công việc của 60.000 nhân viên của ngân hàng thực sự có thể được lập trình để chạy tự động, nhưng khi anh ta đã báo cáo với người giám sát toàn bộ sự việc và không được chấp nhận, bởi vì nếu bạn sử dụng máy tính để tự động hóa, nhiều nhân viên sẽ trở nên không cần thiết, như vậy các quản lý cấp cao tại ngân hàng không có ai để thể hiện quyền lực của họ, vì vậy trên thực tế, việc tạo ra Bullshit Jobs là một phương tiện bảo vệ quyền lực trong ngành tài chính ngân hàng. Cấp trên đầu tiên thu một lượng lớn của cải từ dân chúng thông qua các khoản cho vay và nợ, sau đó phân phối cho cấp dưới trong ngân hàng, để cấp dưới trung thành với họ. 

Đánh giá lại giá trị của công việc

Phương thức phân phối này có vẻ giống như hệ thống phong kiến ​​thời Trung cổ, nên tác giả còn gọi đây là “Chế độ quản lý phong kiến”, vậy điều gì có thể ngăn cản Bullshit Jobs tiếp tục phát triển? Tác giả cho rằng, trước hết phải nhìn nhận lại giá trị của công việc, trước đây người ta thường lấy thị trường để đo giá trị công việc, dường như nhu cầu thị trường đối với công việc càng lớn thì công việc đó càng có giá trị. Tuy nhiên, theo quan điểm này, các công ty lớn sẵn sàng trả lương cao hơn để tìm người đến để làm những công việc vô nghĩa, vì vậy thị trường không phải là một tiêu chuẩn đo lường giá trị của công việc hiệu quả. Tác giả chỉ ra rằng chúng ta có thể tưởng tượng về một điều gì đó để đo lường giá trị của công việc. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó thức dậy, điều gì sẽ xảy ra nếu một người nào đó cùng một công việc nào đó đột nhiên biến mất? Ví dụ, nhân viên y tế, nhân viên dọn vệ sinh, tài xế, nhân viên siêu thị, nhân viên cứu hỏa và giáo viên v...v... Nếu những người này biến mất, thế giới sẽ không hoạt động. Nếu đạo diễn, nhạc sĩ và nghệ sĩ biến mất, thế giới sẽ trở nên rất tẻ nhạt. Nhưng nếu thứ biến mất vào ngày hôm nay là các nhà quản lý quỹ đầu cơ, tiếp thị và quan hệ công chúng, các nhóm du thuyết và luật sư pháp lý, thì thế giới sẽ không tồi tệ đi mà nó còn có thể trở nên tốt đẹp hơn.

Ví dụ, năm 2017, người sáng lập Uber, Travis Kalanick từ chức, hàng loạt quản lý cấp cao rời đi nhưng công ty vẫn có thể tiếp tục hoạt động, hoặc có một cuộc đình công ngân hàng ở Ireland năm 1970, và kết quả là ngành ngân hàng biến mất, về cơ bản cuộc sống hàng ngày của người dân không bị ảnh hưởng, chỉ là họ sử dụng séc thay đồng tiền tệ để lưu thông. Ngược lại, cuộc đình công của công nhân vệ sinh New York khiến người dân New York không thể tiếp tục sống chỉ trong 10 ngày. Sử dụng thí nghiệm về sự tưởng tượng này, chúng ta có thể đánh giá lại giá trị của một công việc đối với xã hội, nhưng điều kỳ lạ là giá trị xã hội của một công việc thường tỉ lệ nghịch với giá trị kinh tế của nó.

Nghiên cứu của Tổ chức Kinh tế Mới của Anh cho thấy cứ mỗi 1 pound (bảng Anh) mà các nhân viên ngân hàng kiếm được sẽ phả hủy 7 pound giá trị xã hội, nhưng mức lương trung bình hàng năm cao tới 5 triệu pound. Cứ 1 pound mà nhân viên dọn dẹp kiếm được thì giá trị xã hội tăng lên là 10 pound nhưng mức lương hàng năm chỉ ở khoảng 13.000 pound. Một người càng làm những công việc có cống hiến thì thù lao mà họ nhận được càng thấp. Có người đã phản bác rằng: Điều này là do các cán bộ ngân hàng được đào tạo trong thời gian dài nên mức thù lao mà họ nhận được mới cao, nhưng có rất nhiều tiến sĩ đã mất 5- 6 năm mới tốt nghiệp vậy tại sao mức lương giảng viên lại thấp như vậy? Hoặc có một phản biện khác: đó là do cung không đúng cầu, nhưng thực tế nguồn cung về dịch vụ điều dưỡng ở Mỹ đang thiếu trầm trọng mà lương của điều dưỡng viên vẫn rất thấp, ngược lại thì nguồn cung của sinh viên tốt nghiệp trường luật đã vượt quá cầu, nhưng lương của luật sư vẫn rất cao, vì vậy chúng ta phải suy nghĩ về hệ thống công việc hiện tại? Tại sao lại trả những mức thù lao thấp cho những người thực sự có cống hiến còn những người không có cống hiến lại nhận được mức thù lao cao? Đó thực sự là do cung cầu thị trường, vấn đề đào tạo nhân lực hay là do người sử dụng lao động xác định mức lương đã cố tình duy trì mô hình phân phối bất bình đẳng này? 

Lịch sử đạo đức làm việc

Bên cạnh việc nhìn nhận lại giá trị của công việc, tác giả cũng cho rằng chúng ta phải quay lại và xem lại lịch sử đạo đức lao động, bởi vì xã hội thường có lý do để hợp lý hóa mức lương thấp. Nếu công việc của bạn đóng góp cho xã hội và làm hài lòng bạn, thì bạn đã nhận được hồi đáp ngay tại thời điểm làm việc, tại sao lại phải đòi hỏi thêm lương? Khái niệm này giờ đã trở thành “Hãy làm những gì bạn yêu thích! Đừng suy nghĩ đến thù lao!” Vì vậy, bắt đầu xuất hiện những thực tập sinh không lương, nhóm dịch Internet (nhóm phụ đề) giúp mọi người dịch miễn phí, các kỹ sư giúp mọi người làm phần mềm miễn phí (mã nguồn mở), các phương tiện truyền thông đăng tải các bài báo của cư dân mạng miễn phí và kênh Youtuber tạo video miễn phí. Kết quả là một hệ thống công việc có giá trị bị đảo ngược. Bạn có thể nhận được mức lương cao khi làm những công việc vô nghĩa, nhưng bạn không thể kiếm được tiền khi làm những công việc mình yêu thích. Thế giới này rốt cuộc là như thế nào?

Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể thấy rằng thái độ này thực sự có nguồn gốc thần học, trong Kinh thánh, lao động là hình phạt của Đức Chúa Trời đối với sự sa ngã của A-đam và Ê-va. Nguyền rủa đàn ông phải cuốc đất làm ruộng, đàn bà phải mang thai và chịu đau khổ. Ở Hy Lạp cổ đại, bản thân lao động là công việc mà nô lệ phải làm, Aristotle thậm chí còn tin rằng công việc sẽ khiến bạn trở thành một người tồi tệ hơn vì nó sẽ khiến bạn không còn thời gian để nghĩ về chính trị dân sự. Nhưng đến cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỷ 18, quan điểm tôn giáo của người Thanh giáo đã thay đổi đạo đức làm việc của người châu Âu. Mọi người bắt đầu nghĩ rằng công việc là sự trừng phạt, nhưng đồng thời cũng là sự cứu rỗi.

Ví dụ, nhà tư tưởng người Anh Carlisle tin rằng con người có thể đạt được sự hoàn hảo trong công việc. Ý muốn của Đức Chúa Trời để tạo ra thế giới và con người là để con người có cơ hội hoàn thành công việc mà chúa trời giao cho thông qua sức lao động của mình. Không thể làm việc chính là nỗi bất hạnh lớn nhất của một con người, bởi vì họ không thể hoàn thành sứ mệnh khi mình được sinh ra, cho nên con người không nên yêu cầu được báo đáp khi làm việc tại thế gian. Bởi “chẳng mong cầu gì về lương mà chỉ trông chờ vào vũ trụ”. Quan điểm về công việc này đã phát triển cho đến ngày nay và biến thành câu nói “làm công việc bạn yêu thích là sự hồi đáp tốt nhất”.

Vào thế kỷ 19, các nhà kinh tế học Ricardo và “lý thuyết giá trị lao động” của Marx đã xuất hiện, họ tin rằng lao động là nguồn gốc của cải và lao động là tác nhân tạo ra giá trị. Quan niệm này sau khi được lan truyền đến Hoa Kỳ và trở thành kiến thức thường ngày tại thời điểm đó, vì vậy Lincoln đã nói: “Lao động có trước tư bản. Tư bản chỉ là thành quả của lao động.” Nhưng sau chiến tranh Nam Bắc, chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp đã càn quét Hoa Kỳ, và quan niệm công việc lấy người sản xuất làm trung tâm khiến người ta coi các nhà tư bản như những tên cướp. Vì vậy, vào những năm 1890, giai cấp tư bản phát minh ra một bộ tư tưởng mới và tuyên bố: Không phải là lao động mà là tư bản tạo ra của cải. Tập trung tư bản có thể tăng năng suất và hạ giá hàng hóa, để mọi người lao động có thể tiêu dùng và sống tốt!

Người tuyên truyền câu nói này khắp nơi là ông vua thép của Hoa Kỳ, Andrew Carnegie. Kết quả là, hệ tư tưởng này đã tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay, lao động không còn được coi là người sản xuất nữa mà là người tiêu dung được coi là trung tâm, nó không còn được định nghĩa bởi công việc của tôi đã tạo ra giá trị gì, mà được định nghĩa bởi tôi đã tiêu dùng những gì. Nhưng điều thú vị là mặc dù tư tưởng chủ nghĩa tiêu dùng này vẫn còn rất phổ biến ngày nay, nhưng sau khi có sự xuất hiện của những việc làm vô nghĩa, mọi người bắt đầu nhận ra rằng nếu công việc là vô nghĩa, thì dù có lương để tiêu dùng và mua sắm, người ta vẫn sẽ mất khả năng xác định bản thân bởi vì công việc là nguồn gốc tạo nên giá trị của bản thân.

Thu nhập cơ bản chung

Tác giả đã đề cập đến một giải pháp giải quyết công việc vô nghĩa ở cuối sách, đó là mô hình thu nhập cơ bản cho tất cả mọi người, khi nói đến thu nhập cơ bản, người ta thường hỏi tiền ở đâu ra? Tác giả tin rằng loại bỏ những công việc vỗ nghĩa có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền để trả cho thu nhập cơ bản. Ví dụ, “Cục Việc làm và Lương hưu” của chính phủ Anh thuê hàng nghìn người làm những công việc vô nghĩa, để những người nộp đơn xin trợ cấp xã hội phải trải qua nhiều bước làm thủ tục mới có thể đủ điều kiện để nhận được trợ cấp. Kết quả là có đến 60% người không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Chính phủ chi tiền ra thuê những người làm công việc vô nghĩa với mục đích khiến người nghèo không thể hưởng trợ cấp thất nghiệp một cách dễ dàng. Loại công việc này khiến nhân viên cảm thấy thật vô nghĩa, nhưng nếu công việc vớ vẩn của các quan chức chính phủ này có thể bị bãi bỏ, thì tiền của người đóng thuế có thể được tiết kiệm và sử dụng để trả thu nhập cơ bản. Nhìn bề ngoài, có vẻ như rất nhiều quan chức chính phủ sẽ thất nghiệp, nhưng thực tế họ được giải phóng khỏi những công việc vô nghĩa, và họ cũng có thể nhận được thu nhập cơ bản để làm những gì họ yêu thích. 

Nếu thu nhập cơ bản toàn dân được thực hiện, công việc có thể tách rời khỏi sinh kế. Mọi người sẽ không bị buộc phải làm những công việc vô nghĩa do sự xuất hiện của áp lực. Nếu những người muốn kiếm nhiều tiền hơn thì họ có thể làm những gì mình thích và những người không muốn làm việc cũng sẽ có nhiều thời gian rảnh hơn. Đây là một thử nghiệm xã hội mà tất cả các quốc gia có thể xem xét và thử nghiệm. Trong thời gian một năm, nếu thử nghiệm cảm thấy kết quả không tốt thì có thể thay đổi vì bản chất nó sẽ không mang lại bất cứ tổn thất nào. 

Kết luận

Tôi hy vọng rằng cuốn “Bullshit Jobs: Đời Ngắn Lắm, Đừng Làm Việc Vô Nghĩa!” được giới thiệu hôm nay có thể khiến bạn suy nghĩ liệu công việc của mình có phải là công việc vô nghĩa hay không. Nếu bạn có thể hiểu thêm về ý nghĩa và giá trị của công việc mà bạn đang làm, tôi rất vui khi đề xuất cuốn sách “Bullshit Jobs” này đến bạn. Bất kể ở cách đãi ngộ như thế nào thì những công việc có ít nhiệm vụ thường thiếu ý nghĩa, không chỉ tước đi sự hài lòng và cảm giác thành tựu của người thực hiện mà họ còn phải giả vờ bận rộn hoặc thậm chí bận rộn với những chi tiết nhỏ nhặt và nhàm chán. Tất nhiên, một số người sẵn sàng chịu đựng những công việc liên tục phủ nhận về ý nghĩa sự hiện diện của bản thân để kiếm sống qua ngày, nhưng Graber nhấn mạnh rằng nhiều người sẵn sàng từ bỏ những vị trí này vì sự tông nghiêm và cái tôi của bản thân. Nếu bạn muốn biết thêm các kiến thức về kinh tế học, bạn có thể đọc một bài viết khác của tác giả: Chủ nghĩa tư bản là gì? Bản chất của khủng hoảng kinh tế như thế nào? Bong bóng Bitcoin là gì? Máy móc làm tổn thương người lao động và nguy cơ mất việc làm? Cuốn sách cần đọc để hiểu về xã hội hiện đại.

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend