Tại sao Bitcoin không thể chống lại lạm phát?|InsHat

Tại sao Bitcoin không thể chống lại lạm phát?

3152 InsHat

Có lẽ bạn có thể đã nghe nói rằng Bitcoin có thể chống lại việc in tiền liên tục ở Hoa Kỳ. Nhưng đối với khái niệm chống lạm phá chúng ta hy vọng rằng sức mua của đồng tiền sẽ duy trì hoặc không suy giảm và đồng tiền sẽ không trở nên mỏng hơn. Từ quan điểm của người gửi tiền cố định, lạm phát chủ yếu diễn ra chậm và từ từ, theo cách này các công cụ chống lạm phát cũng phải chậm, từ từ và ít biến động, do đó sự biến động của khối tài sản Bitcoin này là quá lớn và nó sẽ bị loại bỏ ngay trong cấp độ đầu tiên. Lấy Bitcoin làm ví dụ độ lệch chuẩn hàng năm của BTC (chỉ số chúng tôi sử dụng để đo độ biến động) là khoảng 65–70%, trong khi độ lệch chuẩn của cổ phiếu Mỹ S & P500 là khoảng 15–18%. Nếu người tiền gửi cố định muốn đầu tư vào Bitcoin để chống lạm phát, họ có thể rơi vào trạng thái chưa kịp tận hưởng hiệu quả của chống lạm phát thì sự biến động về giá của đồng tiền này đã bị chính việc chống lạm phát đó nuốt chửng.

Lạm phát là gì?

Lạm phát được định nghĩa như thế nào? Thông thường một trong những chỉ số rõ ràng nhất để đánh giá lạm phát đó là mức giá tăng toàn diện và liên tục hoặc tốc độ tăng nhanh. Cần lưu ý rằng lạm phát chủ yếu không phụ thuộc vào mức tuyệt đối của giá cả mà phụ thuộc vào tốc độ và mức độ tăng giá. Ví dụ nếu mức giá tăng 1% hoặc 2% mỗi năm, mọi người sẽ cảm thấy rằng nó sẽ không quá rõ ràng, nhưng nếu nó tăng 5% hoặc 10% thì rủi ro sẽ lớn hơn đáng kể. Chỉ số chủ yếu dùng để đánh giá lạm phát là tốc độ tăng hàng năm của chỉ số giá tiêu dùng CPI. Ở các nước trưởng thành như Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản, mức tăng CPI hàng năm thường được kiểm soát trong khoảng 2%, nghĩa là miễn là mức tăng CPI hàng năm không vượt quá 2% thì được coi là không có lạm phát. Còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Trung Quốc với tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh người ta thường cho rằng chỉ số CPI tăng trong khoảng 3% hoặc thấp hơn 3,5% được coi là trạng thái lạm phát thấp. Nếu mức tăng này lên tới hai con số thì đó là lạm phát rất nghiêm trọng. 

Tăng trưởng kinh tế, giá tài sản và lạm phát.

Vậy tại sao chúng ta thường nghe nói rằng bất động sản, cổ phiếu, và thậm chí cả Bitcoin có thể phòng ngừa rủi ro lạm phát? Có lẽ nào những gì trước đây nói đều là sai. Thực ra không phải vậy. Phiên bản đơn giản hóa hiện tại của thị trường là đơn giản hóa chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương thành “in tiền”. Trên thực tế lý do khiến chúng ta quan tâm đến chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương, đặc biệt là chính sách nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ, chủ yếu là do nó ảnh hưởng đến xu hướng của ba chỉ số kinh tế chính là tăng trưởng kinh tế, lạm phát và giá tài sản.

Về lý thuyết nếu Ngân hàng Trung Ương cắt giảm lãi suất hoặc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ thì giá tài sản sẽ có xu hướng tăng, điều này nghe rất đơn giản, tuy nhiên trên thực tế vấn đề đánh giá chính xác xu hướng giá tài sản dựa vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương đó là một việc rất phức tạp. Trước hết việc dự đoán và đoán trước chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương sẽ điều chỉnh và công tác chuẩn bị đưa ra quyết định đầu tư như thế nào là điều không dễ dàng. Thứ hai mối quan hệ giữa việc Ngân hàng Trung Ương tăng lãi suất, cắt giảm lãi suất và giá tài sản không phải là mối tương quan đồng biến. Lãi suất tăng không có nghĩa là giá tài sản chắc chắn sẽ giảm, lãi suất giảm không có nghĩa là giá tài sản chắc chắn sẽ tăng. Các tài sản mà chúng ta đã đề cập trước đó, đặc biệt là tài sản tài chính, chúng rất đa dạng bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản v...v... và các chính sách tiền tệ thường có những ảnh hưởng khác nhau đến xu hướng giá của các tài sản này. 

Theo lý thuyết cơ bản nhất về lượng tiền tệ, chúng ta có thể rút ra công thức cơ bản cho mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát và tăng giá tài sản: 

Tỉ lệ tăng trưởng M2 = tỉ lệ tăng trưởng GDP + tỷ lệ lạm phát + tỉ lệ tăng trưởng giá tài sản. 

Đồng thời phương pháp tính toán về tỉ lệ tăng trưởng tài sản có thể được giới thiệu thông qua công thức cơ bản sau: 

Tỷ lệ tăng trưởng giá tài sản = tỷ lệ tăng trưởng M2 – tỷ lệ tăng trưởng GDP - tỷ lệ lạm phát.

Trong lý thuyết tiền tệ theo tốc độ biến động và tính thanh khoản tiền tệ, nó có thể được chia thành ba cấp độ: Cấp độ thứ nhất là tiền (M0) là tiền lưu thông trên thị trường. Cấp độ thứ hai là tiền hẹp (M1) tức là M0 thêm hoạt động gửi tiền không kỳ hạn. Cấp độ thứ ba là tiền mở rộng (M2), tương đương với M1 cộng với tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Có một quy tắc rất đơn giản giữa M2 và giá tài sản, theo quy tắc này để phán đoán xu hướng giá tài sản, như vậy bạn có thể nắm được xu hướng cơ bản và phán đoán xu hướng giá tài sản dựa trên tốc độ tăng của M2. Ví dụ: Ngân hàng Trung ương công bố tốc độ tăng cung tiền M2 năm tới là 10%, tăng trưởng GDP là 4%, CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) tăng 3%, và công thức thay thế sẽ là 10% –4% –3% = 3 %, có nghĩa là năm sau giá tài sản sẽ tăng ít nhất 3%. Tất nhiên quy tắc này chỉ là ước tính sơ bộ không phải là tuyệt đối. 

Ngược lại lý do tại sao chúng ta nghĩ rằng bất động sản, cổ phiếu và thậm chí cả Bitcoin có thể chống lại lạm phát thực ra là vì tốc độ tăng trưởng của tiền mặt gần như bằng 0. Khi nền kinh tế bùng nổ và tốc độ tăng trưởng GDP cao, tốc độ tăng trưởng của M2 thường cũng khá cao. Tại thời điểm này bất động sản, cổ phiếu và thậm chí cả Bitcoin sẽ tăng theo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Do đó lúc này bạn sẽ cảm thấy tài sản mua được bằng tiền mặt ngày càng ít đi, điều này chủ yếu là do giá tài sản đang tăng và lạm phát tại thời điểm này là khá lành mạnh tức là lạm phát tốt. Và khi có lạm phát xấu xuất hiện, tỷ lệ lạm phát lên tới 10% và nền kinh tế tăng trưởng không tốt thì việc in tiền để giải cứu thị trường chẳng khác nào châm dầu vào lửa. Nền kinh tế không cải thiện, và giá tài sản có khả năng tiêu cực cao, tức là đình trệ và dẫn đến lạm phát. Thị trường chứng khoán và nhà đất tại thời điểm này sẽ rơi vào trạng thái sụt giảm mạnh.

Tốc độ lưu thông tiền tệ.

Lý do tại sao chúng ta thường đề cập đến cụm từ “tối thiểu” trong công thức tính giá tài sản là vì mức tăng thực tế của giá tài sản có thể vượt xa tốc độ tăng của M2. Đôi khi Ngân hàng Trung Ương có thể tác động đến kỳ vọng của thị trường về chính sách tiền tệ chỉ bằng một câu nói và thị trường chứng khoán có thể tăng hoặc giảm mạnh đây là một phản ứng thái quá của giá tài sản. Ngoài phản ứng thái quá của giá tài sản, tốc độ lưu thông tiền tệ cũng là một biến số. Giả sử có một cuộc suy thoái kinh tế và Ngân Hàng Trung Ương đã tăng cung tiền M2 để kích thích nền kinh tế, nhưng nó không có tác dụng. Vậy vấn đề nằm ở đâu? Tình huống có thể cần phải xem xét là tốc độ lưu thông tiền tệ giảm, từ đó bù đắp cho nỗ lực kích thích nền kinh tế. Đồng tiền mắc kẹt trong một mắt xích nào đó của chuỗi lưu thông, nhưng rốt cuộc là nó mắc kẹt ở đâu? Có thể việc lưu thông tiền trở nên cực kỳ chậm sau khi đến tay người tiêu dùng. Ví dụ: Vào năm 2020 COVID-19 hoành hành và tốc độ lưu thông tiền tệ M2V đã giảm xuống mức thấp trong lịch sử. Bởi vì mọi người sợ hãi và lo lắng, họ chọn cách tăng cường phòng ngừa và dự trữ tiền mặt, tức là để dành tiền phòng khi những chuyện bất trắc xảy ra còn có cái để dùng hoặc người ta nghĩ rằng ngân hàng có thể sẽ phải đóng cửa nên họ lựa chọn cách cất tiền dưới gầm giường.

Bởi vì theo phương trình Fisher: MV = PQ, trong đó V là vận tốc lưu thông của tiền tệ, M là cung tiền. MV là viết tắt của tổng sản lượng. PQ là viết tắt của GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm quốc nội (P là mức giá cả, Q là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất hay còn gọi là GDP danh nghĩa). Năm 1992 Friedman chỉ ra rằng có một khoảng thời gian kéo dài đáng kể từ việc mở rộng cung tiền đến tác động mạnh mẽ của nó đối với lạm phát: Đối với M1, mức trung bình là 20 tháng. Đối với M2, mức trung bình là 23 tháng. Nghĩa là tác động ban đầu của kích thích tiền tệ MV → Q → P là tích cực (tăng Q), nhưng tác động tiêu cực của kích thích quá mức (tăng P) chỉ bộc lộ trong giai đoạn sau. Do sự chậm trễ về trình tự và thời gian này đã tạo ra lượng tiền tệ quá mức. Giống như khi chúng ta tắm nước nóng vào mùa đông, vì nghĩ rằng nước quá lạnh, chúng ta bật nước nóng, khi nước nóng lên thì lại quá nóng. Bây giờ mọi người đều có vẻ lo ngại về lạm phát, nhưng lúc này chỉ là nước sôi lửa bỏng nhất thời, con số M2 của Fed đã giảm xuống và tốc độ lưu thông của dòng tiền vẫn rất chậm, như thể bị điều chỉnh sang chế độ nước lạnh. Trong thời gian đầu sẽ có sự chênh lệch về thời gian, lạm phát theo đó cũng giảm dần, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, tốc độ tăng cung tiền M2 giảm, tốc độ tăng tài sản năm 2022 chắc chắn sẽ thấp hơn nhiều so với năm 2021. 

Sau khi Hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào năm 1971, nhân loại bước vào kỷ nguyên tiền tệ tín dụng, kể từ khi đồng đô la Mỹ thoát khỏi chế độ bản vị vàng, đồng đô la Mỹ đã mất 98% sức mua tương đương với việc coi giá vàng như một tài sản. Nếu chúng ta coi thế giới là một hệ thống kinh tế, thì đồng tiền cơ bản toàn cầu đã tăng hàng trăm lần từ 48 tỷ USD năm 1971 lên hơn 20 nghìn tỷ USD. Tương ứng tốc độ tăng trưởng M2 tất nhiên là rất nhanh. Trong nửa thế kỷ qua, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thực toàn cầu rất thấp, đặc biệt ở các nền kinh tế trưởng thành, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thực nhìn chung chậm lại rất nhiều. Đồng thời giá cả tài sản tài chính và tổng tài sản tài chính ở các nước phát triển đã tăng với tốc độ nhanh chóng, hiện nay tổng tài sản tài chính toàn cầu đã vượt hơn 5 lần GDP toàn cầu. Do đó trước vấn đề “chống lạm phát” thực ra chúng ta nên nói “bám sát với tốc độ tăng giá tài sản” thì phù hợp hơn. Trên thực tế tỷ lệ lạm phát chỉ số CPI của các quốc gia rõ ràng không nằm ngoài tầm kiểm soát, điều nằm ngoài tầm kiểm soát là giá cả tài sản.

Kết luận.

Bởi vì khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế của Bitcoin là rất lớn. Theo lời giải thích của Satoshi Nakamoto về Bitcon trên trang web của nền tảng P2P “Bitcoin: Hệ thống tiền mặt điện tử ngang hàng” nó cho thấy rằng Bitcoin là một loại tiền kỹ thuật số, bao gồm một chuỗi các mã phức tạp được tạo ra bởi máy tính, Bitcoin mới được tạo ra thông qua một chương trình đặt trước. Một chuỗi các chương trình phức tạp được tạo ra bởi máy tính cấu thành mã bitcoin mới được tạo thông qua một chương trình đặt trước. Giới hạn của Bitcoin là 21 triệu mã. Việc phát minh ra Bitcoin là để chống lại việc phát hành tiền tệ. Tuy nhiên kể từ khi nhân loại phát minh ra “máy khai thác Bitcoin” bằng cách sử dụng một máy chủ lưu trữ đặc biệt quy mô lớn để cơ giới hóa “khai thác”. Bitcoin đã giảm từ lý tưởng ban đầu thành hiện thực. Mặc dù kiểu khai thác gian lận này không thể thay đổi giới hạn trên của thiết kế ban đầu của Bitcoin, nhưng làm tăng vô hạn chi phí khai thác và thúc đẩy các ngành công nghiệp thượng nguồn và hạ nguồn liên quan, tiếp theo là biến Bitcoin hoàn toàn trở thành một sản phẩm tài chính. Khi một hàng hóa trở thành một sản phẩm tài chính, nó không thể thoát khỏi số phận bị thổi phồng và tất cả các sản phẩm có thể được thổi phồng trên thế giới, cho dù đó là hàng hóa chỉ có thể được thổi phồng khi có sự xuất hiện của bong bóng. Và khi Bitcon xuất hiện cuộc khủng hoảng bong bóng, khó có thể chắc chắn rằng Bitcoin có tác dụng chống lại lạm phát. Nếu bạn muốn biết lịch sử của tiền điện tử, bạn có thể đọc phần này: Crypto giới thiệu cách tốt nhất để chống lại chủ nghĩa tư bản giám sát.

Đọc xong bài viết hướng dẫn mà bạn vẫn chưa biết làm thế nào để bắt đầu kiếm tiền online thì hãy tham gia kết bạn zalo ngay, sẽ có người giải đáp và chỉ cho bạn nhiều thông tin tài chính hơn.

Similar

Recommend